Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Các bài bào cáo khoa học tại hội thảo trẻ tự kỷ

Các bài bào cáo khoa học tại hội thảo trẻ tự kỷ
1. Cách tiếp cận trẻ tự kỷ dựa trên cộng đồng (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/1%20-%20BS%20Thanh1.pdf
2. Quá trình phát hiện sớm rối loạn tự kỷ tại Úc (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/2-Margot.pdf
3. Rối nhiễu tâm trí ở trẻ em và cách phòng chống (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/3%20-%20Roi%20nhieu%20tam%20tri%20tre%20em-Hanoi.pdf
4. Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ tại khoa Tâm Thần BV Nhi TW (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/4-BS%20Minh%20Hanoi.pdf
5. Một số hoạt động khám và trị liệu trẻ tự kỷ tại khoa Tâm lý, BV Nhi Đồng 2 (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/5-nhi%20dong%202.pdf
6. CHAT: Một công cụ tầm soát tự kỷ ở trẻ em (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/6-CHAT1.pdf
7. Thực trạng chẩn đoán trẻ tự kỷ hiện nay tại Trung tâm Phúc Tuệ, Hà Nội (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/7-Phuc%20Tue%20hanoi.pdf
8. Đánh giá và quản lý trẻ tự kỷ tại mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/8-Buoi.pdf
9. Nhận xét về các dấu hiệu lâm sàng của rối loạn tự kỷ tại BV Nhi Đồng 1 (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/9-BS%20TRANG.pdf
10. Chia sẻ những hiểu biết về hội chứng tự kỷ: Chẩn đoán và điều trị (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/10-sao%20mai%20_vie_.pdf
11. Chứng cớ khoa học của các biện pháp xử trí bệnh tự kỷ ở trẻ em (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/11-Margot.pdf
12. Lượng giá việc xử trí trẻ tự kỷ tại nhà (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/12-Dieu%20Anh.pdf
13. Bước đầu thực hiện giáo dục hòa nhập cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ tại Hà Nội (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/13%20-%20yen%20hanoi.pdf
14. Tâm vận động và âm ngữ trị liệu: Phương pháp can thiệp vấn đề chậm nói ở trẻ có rối loạn phát triển (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/14-%20yen%20nhidong1.pdf
15. Can thiệp sớm trẻ tự kỷ (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/15%20-%20phuong%20dung%20CDSP%20TPHCM.pdf
16. Dạy trẻ tự kỷ hiểu cảm xúc của người khác (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/16-mydung%20DHSP%20TPHCM.pdf
17. Tác động trên cảm xúc đề giúp trẻ tự kỷ ổn định hành vi (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/17%20-%20Khoai.pdf
18. Sự thấu cảm đối với phụ huynh có con mắc bệnh tự kỷ (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/18%20-%20SoThao.pdf
20. Cách ứng xử rối loạn hành vi của trẻ tự kỷ (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/19-%20Pham%20Ngoc%20Vuong.pdf
21. Vai trò của bác sĩ tâm lý đối với trẻ tự kỷ (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/20-%20Nguyen%20Ngoc%20Dai.pdf
22. Tự kỷ: một khoảng trống đáng sợ (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/21-%20Do%20Quoc%20Tuan.pdf
23. Đào tạo giáo dục viên chuyên biệt chăm sóc trẻ có rối lọan tự kỷ Đơn Vị Tâm Lý Bệnh Viện Nhi Đồng1 (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/22%20-%20thuy.pdf
24. Từ quan sát trẻ tại gia đình đến tham vấn, trị liệu gia đình – một định hướng lâm sàng của Trung tâm N-T Nguyễn Khắc Viện (tải về tại đây: http://www.nhidong1.net/Documents/PDF290408/Doc/23%20-%20NT%20Ha%20noi%20_vie_.pdf
Hội thảo tự kỷ tại Bv. Nhi Đồng 1.

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

chứng tự kỷ ở trẻ em

tretuky.edu.vn
TRẺ TỰ KỶ
Theo quan điểm mô tả lâm sàng của bảng Phân Loại Bệnh Quốc Tế (ICD-10) Vế Các Rối Loạn Tâm Thần Và Hành Vi, Tự kỷ là một hội chứng (gồm nhiều triệu chứng khác nhau) nằm trong mục “F84” với tên gọi “rối loạn phát triển lan toả”( Pervasive Developmental Disorders), là một nhóm các rối loạn đặc trưng bởi các bất thường về hành vi, chất luợng giao tiếp và quan hệ xã hội.
Rối loạn Phát Triển Lan Tỏa (Pervasive Developmental Disorders) là các rối loạn được đặc trưng bởi những bất thường về chất lượng trong các mối quan hệ xã hội và phương thức giao tiếp cũng như có một số sở thích và hành vi bị thu hẹp, định hình lặp đi lặp lại. Các bất thường về chất lượng này hình thành một nét lan tỏa mà người ta tìm thấy trong hoạt động của chủ thể ở mọi hoàn cảnh với nhiều mức độ khác nhau. Trong đa số các trường hợp, sự phát triển không bình thường ngay từ tuổi trẻ nhỏ và có một vài trường hợp các trạng thái bệnh lý này thấy rõ trong 5 năm đầu cuộc đới (Trang 246) 1.
Theo bảng Phân Loại Quốc Tế Bệnh Tật, Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa gồm những tiểu mục sau: Tính tự kỷ ở trẻ em (F84.0), Tự kỷ không điển hình (F84.1), Hội chứng Rett (F84.2), Rối loạn lan tỏa tan rã khác ở trẻ em (F84.3), Rối loạn tăng hoạt động kết hợp với chậm phát triển tâm thần và các động tác định hình (F84.4), Hội chứng Asperger (F84.5), Rối loạn phát triển lan tỏa khác (F84.8), Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (F84.9) (Trang 277-229)2.
Cũng nghiên cứu vế bệnh tự kỷ, theo cuốn Sổ Tay Chẩn Đoán và Thống Kê Những Rối Loạn Tâm Thần (DSM- IV) của Hiệp Hội Các Nhà Tâm Thần Hoa Kỳ: Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa (Pervasive Developmental Disorders) gồm năm thể loại rối loạn phát triển khác nhau: Rối loạn tự kỷ (Autistic disorder), Rối loạn Rett (Rett’s disorder), Rối loạn tan rã thới ấu thơ (childhood disintegrative disorder), Rối loạn Asperger (Asperger’s disorder), Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (pervasive developmental disorder not otherwise specified) (Trang 59) 3.
Điểm tương đồng của hai hệ thống chẩn đoán
ICD-10
1.Tính Tự kỷ ở trẻ em
2.Tự kỷ không điển hình

3.Hội chứng Rett
5.Rối loạn tăng hoạt động với chậm phát triển tâm thần và các động tác định hình
6.Hội chứng Asperger
7. Rối loạn phát triển lan tỏa khác
8. Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu

DSM-IV
1.Rối loạn tự kỷ
2.Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (PDD-NOS)
3.Rối loạn Rett
4. Rối loạn tan rã thời thơ ấu
5.Không có phân loại tương ứng với động tác định hình
6.Rối loạn Asperger
7. Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu
8. Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (Trang 6)4.

Các bác sỹ thực hành và các nhà nghiên cứu đã đạt được sư nhất trí trong cách đánh giá về chứng tự kỷ như phân loại chẩn đoán và những nét đặc trưng bên trong phân loại đó (Rutter, 1996). Điều này tạo lên tính khả thi cho việc thống nhất hai hệ thống chẩn đoán: Tài liệu xuất bản lần thứ tư là Cuốn Sổ Tay Thống Kê và Chẩn Đoán Các Rối Loạn Tâm Thần (DSM-IV) của Hiệp Hội Những Nhà Tâm Thần Mỹ (1994) và Bảng Phân Loại Bệnh Quốc Tế (ICD-10)  xuất bản lần thứ 10 của Tổ Chức Y Tế Thế Giới [WHO], 1992). (Trang 5)4.
Theo thông báo của Hiệp Hội Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Tế: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder-ASD), được hiểu như Rối loạn phát triển lan tỏa (Pervasive Developmental Disorder-PDDs), nguyên nhân bởi sự suy giảm trầm trọng và bao phủ sự suy nghĩ, cảm giác, ngôn ngữ và khả năng quan hệ với người khác. Những rối loạn đó thông thường được chẩn đoán trong thời thơ ấu, gọi là rối loạn tự kỷ, tiếp theo là Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu và có nhiều dạng nhẹ hơn như Hội chứng Asperger và hai rối loạn hiếm gặp khác là Hội chứng Rett và Rối loạn tan rã thời thơ ấu (Trang )5. ( www.nimh.nih.gov/publicat/autism).
Cùng với những quan điểm trên tác giả Hamilton khái quát: Tính tự kỷ trên thực tế là một bệnh nằm trong Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa, rối loạn này bao gồm Rối loạn Asperger (cũng được hiều là hội chứng Asperger), Rett, Rối Loạn Tan Rã Thới Thơ Ấu, và PDD—NOS (Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu). Không như những rối loạn khác được chẩn đoán bởi các triệu chứng cơ thể và các test y khoa, bệnh tự kỷ được xác định khi đối chiếu sự tương thích giữa bệnh của trẻ với các tiêu chuẩn tâm thần xác định (Trang 39) 6.
Như vậy, tính tự kỷ bao hàm nhiều hội chứng, bị quy định bởi đặc điểm bệnh lý lâm sàng và mức độ nặng nhẹ khác nhau. Ở mỗi hội chứng có những triệu chứng giống nhau và những triệu chứng khác nhau tiêu biểu cho từng bệnh cảnh cụ thể. Tuy nhiên trẻ em mắc các hội chừng này đều có biểu hiện chung là: Thiếu kỹ năng trong quan hệ giao tiếp, phát triển khác thường về trí tuệ và nhận thức, nghèo nàn trong thể hiện cảm xúc và tình cảm, chậm phát triển hoặc rối loạn phát triển về ngôn ngữ, kèm theo bất thường về hành vi và ít nhiều có vấn đề cảm giác. Vì có những điểm tương đồng như vậy nên tính tự kỷ có các tên gọi như: Rối loạn tự kỷ, rối loạn phồ tự kỷ, rối loạn phát triển lan toả, rối loạn tự kỷ quạt nan, rối loạn cầu vồng...tuỳ theo quan điểm sử dụng khái niệm và cách tiếp cận của từng tổ chức và cá nhân.
Để nghiên cứu có tính khả thi, đề tài không nghiên cứu toàn bộ các hội chứng nêu trên ở trẻ mà chỉ  tập trung vào hai hội chứng chính: Tính tự kỷ ở trẻ em (F84.0) và Tự kỷ không điển hình (F84.1) và hội chứng Aspergerv (F84.5) theo bảng phân loại bệnh quốc tế ICD 10. Do đó, khi sử dụng thuật ngữ “Tự kỷ” trong đề tài này là bao hàm cả hai hội chứng trên.
Thuật ngữ Autism khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, được dịch theo ba cụm từ khác nhau: Tự kỷ, tự tỏa, tự bế. Tuy nhiên về cơ bản chỉ là cách dịch (cách gọi) khác nhau của bệnh Autism. Nghiên cứu này sẽ sử dụng duy nhất một cụm từ “Tự kỷ” thông suốt đề tài thay vì các cụm từ “Tự tỏa hay “Tự bế”.
                  
                      Công bố mô tả đầu tiên về tính tự kỷ bởi Bs.Leo Kanner vào 1943. Bs . Kanner mô tả một nhóm người trong số những cá nhân mà rất cô lập và xa cách- đó là thuật ngữ tính tự kỷ . Tính Tự kỷ có nghĩa là " cái tôi ", và nhóm mà Kanner đã nghiên cứu ( 11 trẻ) có vẻ đóng kín trong một thế giới nội tại – co cụm. Những đặc trưng bổ sung đáng chú ý bởi Bs. Kanner bao gồm những thiếu hụt giao tiếp, duy trì sự đơn điệu, những vận động khác thường, và hay gây hấn trong thời gian vài năm đầu đời (Trang 7)7.

                  Tự kỷ là một rối loạn phát triển được xác định bởi một sự phát triển không bình thường hay giảm sút biểu hiện trước 3 tuổi, và bởi một hoạt động bất thường đặc trưng trong 3 lĩnh vực: tác động xã hội qua lại, giao tiếp, và tác phong thu hẹp, lặp lại. Rối loạn này xuất hiện ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái từ 3 đến 4 lần. (trang 247) 1
Ngoài 3 dấu hiệu trên, ngày nay người ta còn phát hiện ở trẻ tự kỷ có một số rối loạn khác liên quan đến rối loạn sinh hoc, nhận thức, giác quan, ngôn ngữ, …và có thể chẩn đoán trẻ tự kỷ từ rất sớm, vào khoảng 1,5 tuổi và có thể sớm hơn nữa.
Tính tự kỷ không điền hình Là rối  loạn phát triển lan tỏa khác với tính tự kỷ bởi tính khởi phát của bệnh hoặc không có đầy đủ 3 tiêu chuẩn của chẩn đoán. Như vậy sự phát triển bất thường và/hoặc suy giảm chỉ biểu hiện lần đầu tiên sau 3 tuổi; và/hoặc các nét bất thuờng cần thiết cho chẩn đoán tính tự kỷ không tìm thấy trong một hay hai của cả 3 lĩnh vực tâm thần bệnh lý là tác động xã hội qua lại, giao tiếp, và tác phong thu hẹp, lặp lại. (trang 249) 1
Tính tự kỷ không điển hình ngoài những khác biệt với Tính tự kỷ ở trên còn có một số khác biệt nữa là: cũng có đủ cả ba tiêu chuẩn đặc trưng như trong Tính tự kỷ nhưng mức đô nhẹ hơn-ít trầm trọng hơn như tương tác xã hội tốt hơn, có những dấu hiệu ngôn ngữ khả quan hơn, tính sáng tạo và khả năng thay đổi hơn, …Nói chung Tính tự kỷ hay Tự kỷ không điển hình đều nằm trong Phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders) nhưng biểu hiện mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Theo Michael Powers(1989), Tính tự kỷ như một sự rối loạn thực thể của não gây ra một rối loạn phát triển suốt đời, bao gồm các rối loạn thực thể, thần kinh và sinh hóa. Thường được chẩn đoán trong khoảng từ 30 đến 36 tháng tuổi. Triệu chứng bao gồm những vấn đề về tương tác xã hội, giao tiếp cũng như những ý nghĩ và hành vi lặp lại. (trang 12)7.
                 Quan điềm này ngoài những mô tả các tiêu chuẩn còn cho chúng ta biết tính trầm trọng của bệnh khi nói đến một “rối loạn phát triển suốt đời”. Chữ “suốt đời” ở đây là khó khăn để khỏi bệnh cũng như không thể khỏi bệnh. Tác giả khẳng định, nguyên nhân của bệnh tự kỷ là do rối loạn thức thể não gây ra.
Theo cuốn “ Để hiểu trẻ tự kỷ “ của tiến sĩ Võ Nguyễn Tinh Vân (2002): “Chứng tự kỷ thường mang nét lạ lùng, … phát triển không đồng đều về hành vi và khả năng, trẻ thường hết sức phát triển về một số lĩnh vực, cho thấy những khả năng ít thấy ở trẻ khác đồng lưá, nhưng lại yếu kém ở một số khả năng căn bản thuộc về những lĩnh vực khác, chẳng hạn trẻ có thể đọc sách thông thạo nhưng tỏ ra không hiểu được lời nói và lời yêu cầu đơn giản”. (Trang 3)8.
Quan niệm này không nhắc đền các tiêu chuẩn chẩn đoán mà tác giả nói đền sự khác thường về khả năng theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Nghĩa là trẻ tự kỷ ngoài những khả năng hạn chế còn có những khả năng vượt trội so với trẻ bình thường cùng tuổi.
Theo tác giả Kira (2004) trong cuốn “Rối loạn tự kỷ”: Hầu hết trẻ tự kỷ có nét đặc trưng như : trải qua nhiều thời gian với những hành vi ứng xử bối rối, xao động mà điều này khiến trẻ tự kỉ khác với những trẻ bình thường khác. Chúng có thể nhìn chằm chằm vào khoảng không hàng giờ, ném những đồ vật một cách vô căn cứ trong cơn tức giận. Biểu lộ việc không thích con người (kể cả bố mẹ), thích những hành động bất thường một cách vô thức. Trẻ thể hiện như đang sống trong thế giới riêng của mình. Một vài cá nhân trẻ tự kỷ có năng khiếu đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó như: âm nhạc, toán học.
Tác giả cho thấy một loạt các hành vi bất thường liên quan đến giao tiếp, tính cách, sở thích và năng khiếu của trẻ tự kỷ. Qua đó chúng ta nghĩ đến một rối loạn toàn diện về các mặt thuộc đời sồng tâm thần của trẻ.
                      Tự kỷ là một sự rối loạn chức năng của não, xuất hiện sớm trong cuộc sống, nói chung trước 3 tuổi. Trẻ tự kỷ có vấn đề về hành vi, tưởng tương, giao tiếp và mối quan hệ xã hội. Chứng tự kỷ kéo dài đến tuổi trưởng thành. Một số người tự kỷ có khả năng cao có thể hoc xong đại học và có cuộc sống tự lập. Những người khác chưa bao giờ biết tự phục vụ bản thân và có thể được chẩn đoán sai là rối loạn tâm thần. Nguyên nhân không xác định. (http://www.assistivetech.com/info-medicalterms.htm).  
                      Với khái quát về triệu chứng tự kỷ ở trên cho thấy bệnh này không giống như các bệnh cơ thể khác như: Viêm phế quản, Viêm dạ dày, nhức đầu, …có thể chữa khỏi trong một khoảng thời gian nhất định, mà nó có thể kéo dài trong suốt một khoảng thời gian dài từ khi sinh cho đến trưởng thành, thậm chí suốt cả cuộc đời. Bệnh này rất dễ chẩn đoán nhầm là bệnh tâm thần.
Theo Hiệp Hội Tâm Thần Quốc Tế: Chứng tự kỷ là một sự rối loạn phát triển ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của con người, đến hình thức quan hệ với người khác và đáp ứng phù hợp của con người tới môi trường. Chứng tự kỷ  bắt đầu trong thời thơ ấu và được cho là một rối loạn suốt đời. Một vài triệu chứng có liên hệ với chứng tự kỷ có thể thay đổi trong số những cá nhân, nhưng nói chung, những người tự kỷ có xu hướng suy giảm quan hệ xã hội, giao tiếp, vận động và cảm giác mà ảnh hưởng đến hành vi của họ. Những người với những trường hợp nghiêm trọng hơn có thể có chỉ số IQ ở dưới trung bình, hầu như thiếu những kỹ năng ngôn ngữ, hay có những sự trì hoãn ngôn ngữ. Một số cá nhân bị tự kỷ có vẻ dường như khép kín với bên ngoài và không nhiệt tình; những người khác có vẻ bị bó lại trong những hành vi lặp đi lặp lại và những kiểu mẫu suy nghĩ cứng nhắc. Người tự kỷ có thể  biểu lộ những chuyển động thân thể lặp lại như vỗ, gõ nhẹ ngón tay, đu đưa hay lắc lư. Những cá nhân bị tự kỷ cũng có thể cho thấy một loạt những hành vi ứng xử bao gồm hiếu động thái quá, thiếu chú ý, bốc đồng, sự hung tính, và tự gây thương tích. (www.nimh.nih.gov/publicat/autism.).
Tác giả Temple Grandin  quan tâm đến nhận thức cảm tính,  đến các rối loạn  chức năng cảm giác, khi cho rằng: Tính Tự kỷ là một rối loạn phát triển. Một khuyết tật trong những hệ thống đầu vào của quá trình hình thành thông tin cảm giác gây ra cho đứa trẻ những phản ứng quá mạnh tới một số kích thích nào đó và phản ứng quá yếu tới những kích thích khác. Trẻ tự kỷ thường co lại vào thế giới riêng của mình và Tôi là một trong số những người đó, phản ứng lại những kích thích quá nhiều vào giác quan. (Temple Grandin) (trang 7) 7.
                 Theo Prachi E Shah, Richard Dalton và Neil W. Boris Tự kỷ là một rối loạn phát triển thần kinh và chưa biết rõ nguyên nhân gây bệnh, nhưng có một nền tảng di truyền học chắc chắn. Chứng tự kỷ phát triển và có chẩn đoán rõ ràng trước 36 tháng tuổi.  Nó  đặc trưng bởi một kiểu loại hành vi bao gồm sự suy giảm về chất trong những lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, kỹ năng truyền đạt, tác động quan hệ xã hội qua lại, tưởng tượng và vui chơi (Trang133)9                 
  Ba tác giả đều đồng ý nguyên nhân của bệnh tự kỷ chưa xác định rõ ràng, nhưng đồng thời lại khẳng định mạnh mẽ tính sinh học trong phát triển thần kinh của nó.

Như vậy, tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển thần kinh nhưng chưa biết rõ nguyên nhân. Mức độ nặng nhẹ của bệnh tự kỷ có thể dao động ở nhiều mức độ khác nhau từ người có khả năng trí tuệ bình thường đến chậm phát triển. Chứng tự kỷ biểu hiện sự thiếu quan tâm đến tình cảm của người khác và có rất  ít hoặc không có quan hệ giao tiếp qua lại với mọi người. Trẻ tự kỷ thường được mô tả như  “thế giới đóng kín” và né tránh tính cảm, tình yêu. Nhiều trẻ tự kỷ không nói, thích chơi một mình và tự kích động.
Hội chứng tự kỷ bao gồm nhiều triệu chứng khác nhau, các triệu chứng này hợp thành những biểu hiện khác nhau ở trẻ tự kỷ.
Từ những quan niệm trên, ta có thể đưa ra khái niệm về hội chứng tự kỷ như sau: Tự kỷ là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển trong hành vi, nhận thức, xúc cảm, sở thích, ý nghĩ, lời nói, giác quan và quan hệ xã hội; ít nhiều có kèm theo chậm phát triển trí tuệ. Khi được can thiệp bằng trị liệu tâm lý và giáo dục hầu hết trẻ tự kỷ đều tiến bô tùy theo mức độ bệnh và cách thức can thiệp của các nhà chuyên môn.

Tài liệu tham khảo
1.     Trần Di Ái, Phân Loại Bệnh Quốc Tế (ICD 10) Vế Các Rối Loạn Tâm Thần Và Hành Vi, Viện sức khoe tâm thần, BV. Tâm thần Trung ương, HNội, 1992).
2.     ICD-10, Bảng Phân loại Bệnh Quốc tế, Sở Y Tế TP. Hồ Chí Minh, 1998 Chủ biên Bs. Trương Xuân Liễu.
3.     Quick reference to the diagnostic criteria from DSM-IV-TR (TM), Published by American Psychiatric Association, Washinton,DC, America, 2003).
4.     Fred R. Volkmar, Rhea Paul, Ami Klin, Donald Cohen, Handbook of Autism and Pervasive Developmental Disorders, Published by John Wiley & Sons-Inc, America, 2005.
5.     Autism Spectrum Disorders – The Complete Guide to Understanding Autism, Asperger Sydrome, Pervasive Developmental Disorder, and Other ASDs, Chantal Sicile – Kira, The Berkley Publishing Group A division of  Penguin Group, New York, USA, 2004.
6.     Lynn M. Hamilton, Facing Autism, Waterbrook Publishing, America – 2000.
7.     Richard G.J. (1997), The source for autism, LinguiSystems, U.S.A.
8.     Võ Nguyễn Tinh Vân (2002), Để hiểu chứng tự kỷ, Nxb Bamboo, Australia.
9.     Nelson, Textbook of pediatrics, 18th edition, volume 1, Robert M. Kliegman, MD and Richard E. Behrman, MD, 2007).

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011








CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CAN THIỆP CHO TRẺ TỰ KỶ







Theo các quan sát nghiên cứu ghi nhận, sự phát triển nhận thức của trẻ liên quan đến chức năng cảm giác vận động, nếu khả năng vận động của trẻ gặp vấn đề khó khăn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nhận thức. Hầu hết sự vận động của trẻ em hướng theo một quy luật nhất định. Quy luật “từ đầu đến chân” và “từ trong ra ngoài”, ví dụ: trẻ có thể biết bú trước khi trẻ có thể cầm, nắm. Biết nâng đầu trước khi biết ngồi, biết ngồi trước khi biết đứng, trẻ có thể biết sử dụng bàn tay trước khi biết điều khiển chân. Trên đây là nền tảng sinh học trong phát triển thể chất và sự thành thục chức năng vận động của trẻ em nói chung. Nếu chức năng sinh học phát triển không bình thường hoặc chậm phát triển sẽ ảnh hưởng đến trí tuệ của trẻ. Sau đây là một số lý thuyết về phát triển nhận thức.



Lý thuyết “Điều kiện hóa cổ điển”



Khoảng cuối thế kỷ 19, tâm lý học ra khỏi viễn cảnh chủ quan của thuyết nội quan, hướng về một phương pháp khách quan hơn. Cách tiếp cận khoa học này đối với tâm lý học có nguồn gốc liên quan đến công việc của Ivan Petrovich Pavlov (1849-1936). Pavlov phát triển một lý thuyết lớn liên quan đến học tập được gọi là “Điều kiện hóa cổ điển”. Theo lý thuyết này, “những hành vi nhất định có thể được tạo ra bởi kích thích trung tính đơn giản bởi sự liên kết học tập của nó với một kích thích mạnh hơn”. Nguyên lý điều kiện hóa này có thể ứng dụng được với nhiều loại hành vi nhận thức của con người. Quan điểm của Pavlop cho thấy nhận thức là một sự liên kết giữa hai kích thích theo cơ chế “phản xạ có điều kiện”, đây là loại phản xạ con người học được trong cuộc sống.



Lý thuyết về luật luyện tập và luật hiệu quả



Nghiên cứu về tính bền vững của quá trình nhận thức, Edward Lee Thorndike (1874- 1949), nhà tâm lý học Mỹ đã phát minh hai lý thuyết là “Luật luyện tập” và “Luật hiệu quả” áp dụng trong học tập và phát triển nhận thức của con người. Luật luyện tập gồm hai phần: luật sử dụng và luật không sử dụng. Luật sử dụng nói lên sự liên tưởng càng được thực hành, nó càng trở nên mạnh hơn. Luật không sử dụng cho rằng liên tưởng càng không được sử dụng lâu bao nhiêu, nó càng trở nên yếu đi bấy nhiêu. Luật hiệu quả nói rằng nếu một liên tưởng kéo theo sau một “tình trạng thỏa mãn” nó sẽ trở nên mạnh hơn và nếu theo sau “tình trạng khó chịu” sẽ trở nên yếu đi.



Khoa học ngày nay đều thừa nhận giá trị của “Luật luyện tập” và “Luật hiệu quả”. Nghĩa là nhận thức của con người càng sâu sắc khi thường xuyên được tái hiện và luyện tập. Ngược lại, con người có thể sẽ quên đi những tri thức mà con người đã nhận thức được trước đây nếu tri thức đó không được luyện tập hay tái hiện thường xuyên. Nhận thức đi kèm với cảm giác thoải mái dễ chịu, thì sự ghi nhớ sẽ được lưu giữ lâu hơn cảm giác khó chịu. Trong phần nghiên cứu tác động, chúng tôi sử dụng hai quy luật này vào củng cố hành vi mong muốn và xóa bỏ hành vi không mong muốn khi trị liệu cho nâng cao nhận thức TTK.



Quan điểm điều kiện hóa của Skinner



Cũng liên quan đến phát triển nhận thức, khác với “điều kiện hóa cổ điển”, Burrhus Frederic Skinner (1904-1990) cho thấy một vai trò tích cực hơn, với “Điều kiện hóa tạo tác” khi trẻ được hoạt động (thể hiện hành vi) trong môi trường của chúng, đồng thời quan điểm của Skinner cho phép tính linh hoạt hơn và khả năng tự tạo ra mô hình hành vi khi đã trải qua nhiều quá trình lựa chọn.



Đây là những quan điểm khá tiến bộ khi bắt đầu đề cập đến những yếu tố chủ động trong tâm lý con người. Đề tài nghiên cứu này chủ trương áp dụng lý thuyết của Skinner vào can thiệp trị liệu nhằm nâng cao khả năng nhận thức cho TTK. Lý thuyết này là nền tảng cơ bản cho phương pháp ABA trong trị liệu TTK.






Lý thuyết học tập xã hội



Cũng bàn về phát triển nhận thức thông qua học tập, Albert Bandura (1925), đã đề xuất “Lý thuyết học tập xã hội”. Cách tiếp cận của Bandura đầu tiên có tên hành vi xã hội, rồi đến lý thuyết nhận thức xã hội, và cuối cùng là lý thuyết học tập xã hội. Bandura cho rằng, trẻ bắt chước hành động của người khác dựa trên lĩnh hội sự quan sát. Trong cuộc sống người lớn cung cấp cho trẻ em những mô hình hoạt động và sự học tập thông qua bắt chước là điều vô cùng bình thường trong tất cả các lĩnh vực xã hội và phát triển nhận thức.



Khác với các nhà hành vi trước đó, Bandura đã cho thấy sự hiện diện thô sơ của môi trường xã hội trong lý thuyết học tập xã hội của ông. Lý thuyết học tập xã hội sẽ là nền tảng cơ bản cho hình thức trị liệu gia đình.



Chủ nghĩa hành vi từ khi xuất hiện đến nay đã có rất nhiều sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Chủ nghĩa hành vi ngày nay không chỉ bàn đến hành vi đơn thuần, mà các nhà hành vi đã nghiên cứu sâu về hành vi nhận thức. Vì vậy, với mục đích nâng cao khả năng nhận thức cho TTK, chúng tôi sử dụng lý thuyết hành vi vào can thiệp trị liệu cho trẻ.



Quan điểm hình thành hành động trí tuệ của Galpêrin



Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tâm lý học Mác xit, P.Ia Galpêrin đã đưa ra lý thuyết hình thành hành động trí tuệ. Quan điểm lý thuyết của Galpêrin là: “Luận điểm chủ yếu của giả thuyết này là coi hoạt động tâm lý là kết quả của việc chuyển các hành động vật chất bên ngoài vào lĩnh vực phản ánh- vào lĩnh vực tri giác, biểu tượng và khái niệm. Quá trình di chuyển ấy tiến hành theo một số bước; ở mỗi bước có sự phản ánh mới, một lần tái hiện hành động và sự cải tổ một cách có hệ thống hành động đó” [35, tr.618]. Ông đã tiến hành phân tích các cấu trúc của hành động, xác lập và mô tả các bước hình thành hành động trí tuệ, nghiên cứu các phương pháp định hướng việc hình thành hành động trí tuệ cho trẻ em trong học tập.





Các bước hình thành hành động trí tuệ



Bước 1: Lập cơ sở định hướng của hành động. Lập cơ sở định hướng là nhiệm vụ chủ yếu trong quá trình hình thành hành động (“gây một biểu tượng sơ bộ về việc làm”). Khi thực hiện hành động, cơ sở định hướng này quy định quá trình định hướng vào việc làm và như vậy nó là phần quan trọng nhất trong cơ chế tâm lý học của hành động. Có ba loại định hướng chủ yếu cho việc làm. Cơ sở định hướng thứ nhất: chỉ có mẫu vật, hành động và sản phẩm của nó. Cách này, không hề cho một lời chỉ dẫn, để thực hiện đúng đắn hành động đó như thế nào, học sinh tự “mày mò” tìm lấy, xác lập lấy. Cơ sở định hướng này là quá trình hình thành hành động diễn ra theo cách “thử và sai”. Cơ sở định hướng thứ hai: có mẫu vật, hành động, sản phẩm và sự chỉ dẫn để làm đúng hành động đó với vật liệu mới. Mỗi lần lặp lại cùng một hành động, giáo viên chỉ ra các điểm tựa, các điều kiện để làm đúng, sau đó học sinh tự mình tái hiện lại chúng. Cách này học sinh có thể biết cách phân tích công việc theo góc độ hành động sắp làm, và điều đó làm cho hành động được bền vững hơn, khi các điều kiện thay đổi học sinh chuyển được sang việc làm mới. Cơ sở định hướng thứ ba: có các đặc điểm là phân tích việc làm mới được xếp lên hàng đầu. Sự phân tích cho phép lấy ra các điểm tựa, các điều kiện để thực hiện đúng việc làm, sau đó, theo những chỉ dẫn ấy mà tiến hành hành động phù hợp với việc làm được giao. Có thể nói, cách thứ ba là cách dạy trẻ phân tích để tự tìm ra các điểm tựa, các điều kiện để thực hiện.



Bước 2: Hành động với đồ vật hay vật chất hóa. Cơ sở định hướng của hành động vẫn chỉ là một hệ thống các chỉ dẫn cách thực hiện hành động, chứ không phải chính hành động. Do đó, đây là bước hành động với vật thật hay các biến thể của nó như hình vẽ, ký hiệu, sơ đồ, mô hình, vật mẫu, chữ viết,… của vật chất đó. Galperin cho rằng, bước này là nguồn gốc của mọi hành động trí tuệ trọn vẹn. Nội dung của nó là chủ thể dùng tay để triển khai hành động, khái quát và rút gọn. Khai triển một hành động có nghĩa là chỉ ra tất cả các thao tác của nó trong mối quan hệ qua lại của chúng. Như vậy cần phải phân chia hành động thành các thao tác đến mức hết cỡ. Khái quát một hành động từ trong các thuộc tính đa dạng của đối tượng của nó lấy ra đúng chính những thuộc tính cần cho việc thực hiện hành động đó. Rút gọn là thao tác hóa những điều khái quát được. Bước này làm cho hành động nhanh lên.



Bước 3: Hành động nói to không dùng đồ vật. ngôn ngữ trở thành đối tượng của hành động. Ở đây ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là hệ thống ký hiệu chứa nghĩa theo các qui tắc thống nhất, mà còn là thực tại chứa đựng toàn bộ hành động, thao tác và vật liệu.



Bước 4: Hành động với lời nói thầm. Bước này có thể xác định từ lúc hành động nói to chuyển vào bên trong, cho đến khi nói thầm thành thạo. Bản chất của bước này chính là cấu tạo lại ngôn ngữ. Biến các hình ảnh, âm thanh của từ thành biểu tượng.
Bước 5: Hành động rút gọn với lời nói bên trong. Ngôn ngữ không còn hướng ra bên ngoài, do đó ngôn ngữ không còn giữ nguyên quy tắc âm ngữ và ngữ pháp.Trong hình thái này, nội dung vật chất của hành động được biểu thị trong nghĩa của từ, còn âm thanh của từ được rút gọn tới mức tối đa. Ngôn ngữ hoàn toàn là ngôn ngữ bên trong.



Qua lý thuyết của Galperin, chúng ta thấy con đường hình thành hoạt động trí tuệ của con người vô cùng phức tạp. Mô hình 5 bước này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nghiên cứu tâm lý con người, đồng thời đây cũng là con đường phát triển nhận thức của mỗi cá nhân. Chúng tôi vận dụng lý thuyết của của Galperin vào phần tác động can thiệp và lý giải quá trình phát triển nhận thức của TTK.



Thuyết văn hóa của Vưgotxky



Nhà tâm lý học Nga Lev Semenovich Vưgotxky (1896-1934), là người đầu tiên nhận ra tầm quan trọng của người lớn trong môi trường nhận thức trẻ em. Đối với ông, phát triển trí tuệ chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ mô phạm (dựa trên giao tiếp dạy học) sẽ làm cho cá nhân tiến bộ hơn. Một khía cạnh đáng chú ý trong quan điểm của ông khi khẳng định khả năng phát triển cao của trí tuệ trước hết được thấy và ứng dụng thành thạo trong tương tác xã hội, sau đó được tiếp thu và sở hữu như quá trình suy nghĩ của cá nhân. Ví dụ, ngôn ngữ được sử dụng trong xã hội tới mức độ khá về khả năng trước khi nó được tiếp nhận, tổ chức lại quá trình suy nghĩ. Như vậy, điểm chính trong lý thuyết của Vưgotxky là tương tác xã hội là vai trò chủ yếu trong phát triển nhận thức. Ông chỉ rõ “có một khoảng cách lớn giữa những gì trẻ em biết và những gì trẻ em được dạy. Tại một giai đoạn phát triển của trẻ có một mức độ nhất định của sự hiểu biết, một cực điểm nhất thời, ở cao hơn điểm này là vùng phát triển gần (the zone of proximal development). Vùng này có thể được xem như những vấn đề và kiến thức mà nó là một trở ngại nhỏ cho trẻ tự hiểu. Tuy nhiên, nó có thể được khám phá và được hiểu với sự giúp đỡ của người lớn. Như vậy người lớn có thể hướng dẫn trẻ hiểu vững vàng hơn những kiến thức phức tạp có liên quan”.



Quan điểm của Vưgotxky thừa nhận văn hóa, xã hội hay sự tương tác của người lớn với trẻ là môi trường lý tưởng cho các hoạt động nhận thức. Trong quá trình nhận thức, trẻ cần sự hướng dẫn của người khác để tiến lên một mức độ nhận thức cao hơn. Hầu hết TTK gặp khó khăn về giao tiếp, cũng như khó khăn trong khả năng tự học tập.





Phát triển nhận thức theo quan điểm của Piaget



Quan điểm của J Piaget chia sự phát triển nhận thức của trẻ thành bốn giai đoạn chính: Giai đoạn 1, cảm giác - vận động (0 đến 2 tuổi), trẻ sơ sinh sử dụng khả năng cảm giác và vận động để thăm dò và đạt được một số hiểu biết cơ bản về môi trường. Khi mới được sinh ra, trẻ chỉ có những phản xạ bẩm sinh để gắn kết với thế giới. Cuối thời kỳ cảm giác vận động, trẻ có được khả năng phối hợp những cảm giác vận động phức tạp. Giai đoạn 2: Tiền thao tác ( từ 2 đến 7 tuổi): Trẻ sử dụng biểu trưng (các hình ảnh và ngôn ngữ) để diễn tả khía cạnh khác nhau của môi trường. Trẻ phản ứng lại các đối tượng và sự kiện theo cách nghĩ của mình. Suy nghĩ của trẻ lúc này mang tính chất “mình là trung tâm”, nghĩa là trẻ nghĩ rằng, mọi người đều nhìn nhận thế giới giống như cách nhìn của chúng. Giai đoạn 3: Thao tác cụ thể (từ 7 đến 11 tuổi): là giai đoạn trẻ sử dụng các thao tác nhận thức (những hành động tinh thần, hay những thành phần của suy nghĩ logic) trên các vật thật. Giai đoạn 4: thao tác hình thức (từ 11 tuổi đến lớn): Đây là hình thức thao tác cho phép trẻ tổ chức ý nghĩ theo một cách thức nhất định, trẻ có thể kiểm tra những hành động suy nghĩ của mình và người khác. Lúc này suy nghĩ của trẻ đã mang tính trừu tượng và hệ thống.



Quan điểm nhận thức của Piaget cho ta một hướng nhìn toàn diện về quá trình phát triển nhận thức của trẻ em từ giai đoạn sơ sinh đến tuổi trưởng thành thông qua các hoạt động nhận thức như cảm giác - vận động, nhận thức các hình ảnh biểu trưng, thực hiện thao tác trí tuệ cụ thể và các thao tác trí tuệ mang tính hình thức. Lý thuyết này chủ yếu sử dụng cho lý giải sự phát triển nhận thức của TTK.







Ts. Ngô Xuân Điệp












Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011




TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT BIM BIM CAN THIỆP CHO TRẺ TỰ KỶ/ASPERGER




TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT BIM BIM ra đời với mong muốn chung tay góp sức một phần vào xã hội trong việc giúp đỡ các em có những khó khăn trong phát triển tâm vận động như: trẻ chậm nói, chậm phát triển trí tuệ, tự kỷ, Asperger,…), trẻ có vấn đề về hành vi, nhận thức, giao tiếp, cảm xúc,…

Khi đến với
TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT BIM BIM
, trẻ sẽ được quan sát, theo dõi, xác định tình trạng phát triển tâm vận động dựa trên các test tâm lý như Test Denver II (thang đánh giá sự phát triển tâm vận động), thang đo CARS (thang đánh giá mức độ tự kỷ), ABLLS (thang đánh giá khả năng học tập), thang đo nhận thức,… để tìm ra cách thức tác động hiệu quả. Đồng thời, tại đây, chúng tôi sẽ tiến hành chương trình can thiệp sớm, chương trình giáo dục đặc biệt, cũng như hướng dẫn cho các phụ huynh trong việc giúp trẻ học tập tại nhà.

Một số phương pháp trị liệu tâm lý cho trẻ:

Tùy từng trẻ khác nhau sẽ có phương pháp tác động khác nhau:
- Trị liệu tâm lý
- Trò chơi trị liệu
- Hoạt động trị liệu
- Thủy trị liệu
- Tâm vận động
- Chỉnh âm và trị liệu ngôn ngữ
- Học trên máy vi tính
- Điều hòa cảm giác
- Phương pháp phát triển nhận thức
- Phương pháp ABA
- Phương pháp TEACCH
- Phương pháp PECS
- Floor Time
- Cutting Time
- ….


Phát hiện sớm các rối loạn tâm lý để đưa trẻ đi chẩn đoán và can thiệp kịp thời là một vấn đề cực kỳ quan trọng và có tính quyết định đối với tương lai của trẻ. Vì đối với những trẻ này, chúng ta phải chạy đua với khoảng thời gian đầu đời của trẻ càng sớm càng tốt hay như các bậc phụ huynh thường nói: “Đây là thời gian vàng” nhằm can thiệp giáo dục đặc biệt cho trẻ. Một khi tình trạng nhận thức của trẻ được cải thiện, thì chất lượng cuộc sống của trẻ được nâng lên, khả năng hòa nhập vào cộng đồng được cải thiện. Vì lý do đó,
TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT BIM BIM
sử dụng hành vi trị liệu làm nền tảng cho can thiệp với mục đích nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ. Ngược lại, nếu trẻ có các rối loạn tâm lý không được phát hiện và can thiệp sớm cũng như áp dụng các phương pháp khoa học hay chương trình học không phù hợp với trẻ, trẻ sẽ mất đi cơ hội can thiệp sớm cũng như về lâu dài trẻ không thể hòa nhập vào xã hội.

Tiến hành trị liệu
Sau khi trẻ được chẩn đoán bởi các bác sỹ hay nhà tâm lý trị liệu là có những khó khăn về phát triển, đồng thời được sự yêu cầu trị liệu của quý phụ huynh,
TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT BIM BIM
sẽ tiến hành xây dựng mô hình can thiệp. Bắt đầu chương trình, chúng tôi tiến hành lượng giá mức độ rối loạn, mức độ nhận thức và sự phát triển tâm vận động cho trẻ. Trong quá trình tác động, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp trị liệu, trong đó đặc biệt có sự kết hợp giữa hành vi trị liệu và hoạt động trị liệu. Nội dung trị liệu cụ thể sẽ được thay đổi từng giờ, từng ngày bởi các giáo viên và các chuyên viên. Chương trình học sẽ được thay đổi sau mỗi tuần, mỗi tháng trị liệu bởi những nhà chuyên môn. Chương trình trị liệu được xây dựng bởi Tiến sĩ Tâm lý (chuyên nghiên cứu và thực hành trị liệu cho trẻ tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ) và thực hiện bởi các giáo dục viên đặc biệt. Từng trẻ khác nhau, chúng tôi tiến hành xây dựng chương trình can thiệp khác nhau.
Ngoài ra công ty chúng tôi còn tiến hành tập huấn, cũng như hướng dẫn trị liệu cho các trẻ ở xa TP. Hồ Chí Minh.




Trường chúng tôi nhận can thiệp cho trẻ tự kỷ và chậm phát triển trí tuệ từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần.
KHÁM TÂM LÝ

- Trẻ chậm nói
- Trẻ chậm phát triển tâm vận động
- Trẻ tự kỷ
- Trẻ có khó khăn trong học tập
- Trẻ có khó khăn về giao tiếp
- Trẻ có ý nghĩ và hành vi khác thường
- Tham vấn tâm lý
- Trị liệu tâm lý cho người lớn và trẻ em
- Giải đáp các thắc mắc về tâm lý



- Tập huấn chuyên môn cho giáo viên và phụ huynh.




Khám tâm lý theo lịch hẹn


“Chúng tôi luôn lắng nghe và chia sẻ cùng bạn”

Địa chỉ liên hệ:




Cơ sở 1: 381/4/10, Phan Văn Trị, P.11, Q. Bình Thạnh, Tp.HCM.
Điện thoại: (08) 222 973 93 hoặc 0919795574.




Cơ sở 2: số 19, đường 12, Khu DC Khang Điền, Dương Đình Hội, Phước Long B, Q9, Tp. Hồ Chí Minh.



Điện thoại: (08) 221 018 78 hoặc 0919795574.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Trường chuyên biệt Bim Bim

TRƯỜNG CHUYÊN BIÊT BIM BIM


Trường chuyên biệt Bim Bim: Giúp trẻ nhanh chóng hòa nhập cộng đồng

“Khi trẻ có một số biểu hiện như: chậm nói, hay không nói; không nhìn mắt người đối diện, không biểu lộ tình cảm… là có thể trẻ đang mắc bệnh tự kỷ, chậm phát triển”, TS tâm lý Ngô Xuân Điệp - Cố vấn chuyên môn Trường Chuyên biệt Bim Bim, cho biết.

Cũng theo chia sẻ của TS. Điệp, hướng điều trị mới cho các trẻ mắc bệnh này là liệu pháp tâm lý. Tùy vào từng trường hợp cụ thể, chuyên gia điều trị sẽ xây dựng lại khung tâm lý cho trẻ, giúp trẻ nhanh chóng hòa nhập, sinh hoạt, phát triển bình thường. Đặc biệt, để chữa bệnh tự kỷ, chậm phát triển hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều yếu tố; trong đó, nhà trường (nơi trực tiếp chữa trị) và gia đình có vai trò cực kỳ quan trọng.

Hòa chung vào công tác chăm sóc, chữa trị trẻ bị tự kỷ, chậm nói, chậm phát triển của xã hội, Trường Chuyên biệt Bim Bim ra đời với mục đích trở thành nơi chữa trị, chia sẻ những khó khăn trong việc tìm ra phương pháp nuôi dạy trẻ phù hợp, khoa học của nhiều gia đình có con em mắc phải bệnh. Để hoàn thành sứ mệnh của mình, ngay từ buổi đầu thành lập, Bim Bim đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất khang trang, hiện đại gồm 11 phòng học, phòng chức năng, sân chơi, hồ bơi…, cùng đội ngũ giáo viên, quản lý là những chuyên gia đầu ngành, tâm huyết, yêu trẻ.

Hiện tại, Bim Bim đang chăm sóc các bé dưới 10 tuổi bị tự kỷ, chậm nói, chậm phát triển. Song song với liệu pháp điều trị tâm lý (tập cho trẻ có ý thức về bản thân và tự khẳng định bản thân, phát triển ngôn ngữ phù hợp với khả năng của trẻ; thiết lập mối quan hệ giữa trẻ với gia đình, giáo viên, bạn bè, môi trường xung quanh…), Trường Chuyên biệt Bim Bim còn lập biểu đồ theo dõi chi tiết sự hồi phục, phát triển của từng trẻ trong quá trình theo học tại trường, tư vấn - trị liệu trẻ tự kỷ, hướng dẫn xây dựng chương trình giáo dục đặc biệt tại gia đình của các trẻ… “Bim Bim thấu hiểu những khó khăn, vất vả của gia đình có trẻ mắc phải bệnh tự kỷ, chậm phát triển. Vì vậy, chúng tôi đang tiến tới xây dựng chương trình giáo dục, chăm sóc trẻ bị tự kỷ - chậm phát triển tại gia đình có trẻ mắc phải bệnh, nhằm giúp phụ huynh có cách chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ phù hợp - khoa học, giúp trẻ nhanh chóng hòa nhập cộng đồng”.

TS. Điệp, bộc bạch: Tự kỷ là khuyết tật phức tạp về phát triển, ảnh hưởng đến nhiều khả năng như trí hiểu, sử dụng ngôn ngữ, biểu lộ tình cảm… Những biểu hiện này thường thấy trong ba năm đầu đời của trẻ với những biểu hiện và mức độ bệnh khác nhau.

Báo giáo dục Tp. HCM