Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC CỦA TRẺ TỰ KỶ QUA TRÒ CHƠI


PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC CỦA TRẺ TỰ KỶ QUA TRÒ CHƠI


                                            BS. Phạm Ngọc Thanh
                                                                                  Cố vấn tâm lý-Khoa Tâm Lý
                                                                                       Bệnh viện Nhi Đồng 1

Trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong việc chơi, vì trẻ có khiếm khuyết trong giao tiếp, tương tác xã hội và hành vi rập khuôn . Chơi là một phương tiện trung gian nhằm giúp trẻ phát triển kỹ năng nhận thức như giải quyết vấn đề, sắp xếp thứ tự và bắt chước. Chơi cũng hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, kỹ năng vận động, tương tác xã hội và hiểu biết.
Mục tiêu của bài báo cáo này là cung cấp sự hiểu biết về tầm quan trọng của các kỹ năng chơi và đề nghị một số hướng dẫn để đánh giá mức độ chơi của trẻ và thiết lập kế hoạch chơi hiệu quả nhằm giúp trẻ tự kỷ phát triển tốt hơn. 
XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG CHƠI CỦA TRẺ
Quan sát trẻ chơi sẽ giúp ta hiểu khả năng chơi của trẻ và xác định những lĩnh vực cần triển khai thêm. Trẻ tự kỷ gặp khó khăn với những kỹ năng dưới đây:
-          Quan sát và bắt chước trò chơi của người khác
-          Đọc ý của người khác
-          Hiểu những “luật không được viết”
-          Luân phiên
-          Theo một chuỗi hướng dẫn
-          Thay đổi trò chơi
-          Hiểu điều trẻ muốn làm và người khác muốn làm có thể khác nhau
-          Linh động trong vai trò của mỗi người trong trò chơi
-          Chơi giả vờ. 
Khi quan sát trẻ chơi, ta cần tự đặt các câu hỏi dưới đây:
1.      Trẻ có thích vài đồ chơi nào không? Đồ chơi nào được trẻ thích nhất? Trẻ có thích những đồ chơi quay, chuyển động, có chất liệu đặc biệt…
2.      Trẻ dùng đồ chơi như thế nào? Quan sát xem trẻ có xếp hàng hoặc phân loại đồ chơi, có hành động lặp đi lặp lại, dùng đồ chơi phù hợp …
3.      Trẻ thích loại sinh hoạt nào?Trò chơi ồn ào, im lặng, xây dựng, trốn tìm hoặc tương tác với người khác…
4.      Trẻ có chơi với ai không? Quan sát cách trẻ tương tác với người lớn và các trẻ khác.
XÁC ĐỊNH CÁC KỸ NĂNG CHƠI CỦA TRẺ TỰ KỶ
1.      Mức độ phát triển chơi
·         Chơi cảm giác/thám hiểm
Trẻ bỏ đồ chơi vào miệng, vẫy, ném, đập đồ chơi lặp đi lặp lại; hoặc dành nhiều thời gian lật úp hoặc thao tác đồ vật một cách rập khuôn.
·         Chơi quan hệ:
Chơi quan hệ  như đập đồ vật với nhau, xếp hàng đồ vật bên cạnh nhau, phân loại đồ vật hoặc chơi xây dựng như tập hợp hay tháo rời, hoặc nối kết các mảnh của một đồ vật.
·         Chơi chức năng
Trẻ dùng đồ vật với chủ đích như đẩy xe hoặc đặt tách vào miệng.
·         Chơi biểu tượng/tưởng tượng
Tưởng tượng đồ vật vô tri vô giác(vd. búp bê và thú nhồi bông) như người thật; và khả năng giả vờ(áp một quả chuối vào tai và giả vờ là điện thoại). Tuy nhiên, các nghiên cứu trẻ tự kỷ cho thấy trẻ kém khả năng phát triển trò chơi biểu tượng. Tuy nhiên trẻ có thể được dạy các trò chơi “tưởng tượng” thường quy.  
2.      Mức độ chơi xã hội
·         Chơi một mình
Trẻ chơi một mình với đồ chơi , không khởi xướng chơi tương tác với người khác và tránh chơi gần người khác.
·         Chơi song song
Ở giai đoạn này, trẻ ý thức hơn về những người lớn và trẻ em trong không gian chơi của trẻ. Trẻ có thể ngưng chơi để quan sát nhanh hành động của người khác, nhưng không tự động đến gần người khác để cùng chơi. Trẻ có thể chia sẻ một đồ chơi trong thời gian ngắn, nhưng mỗi trẻ tiếp tục chơi theo “chủ đề” của trẻ.
·         Chơi hợp tác
Ở mức độ này trẻ chứng tỏ khả năng hợp tác trong một chuỗi trò chơi với các bạn. Chơi xã hội phát triển từ chơi luân phiên với người lớn như chơi trốn tìm. Trẻ tự kỷ khó chơi hợp tác vì sự khiếm khuyết xã hội và giao tiếp.
NHỮNG CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN CHƠI CỦA TRẺ TỰ KỶ
1.      Phát triển kỹ năng ở mỗi mức độ tiêu biểu(representational level)
·         Chơi thám hiểm
Động viên trẻ thám hiểm môi trường chơi bằng cách củng cố việc cầm và quan sát đồ chơi , rồi thực hiện một số thao tác đơn giản với đồ vật bằng một tay, trong khi làm một cử chỉ khác với tay kia(vd. vịn tủ trong nhà búp bê trong khi mở và đóng cửa).
·         Chơi quan hệ
Củng cố trò chơi nối kết hai vật hoặc những phần khác nhau của một đồ vật vd. đập các đồ vật với nhau; xếp hàng, cặp đôi hoặc tập hợp những đồ vật cùng loại.
·         Chơi chức năng
-          Chơi chức năng đơn giản- Dạy trẻ dùng một đồ vật với một chủ đích vd.đẩy xe tải quanh phòng, để tách lên miệng như để uống.
-          Chơi chức năng phức tạp – Trẻ được dạy cách thực hiện tối thiểu hai hành động để tạo một tác động vd.đẩy hộp đồ chơi, nhắm mắt và nhấn nút…
·         Chơi tưởng tượng
-          Chơi tưởng tượng đơn giản: dùng một đồ vật tượng trưng cho một vật khác, như dùng khối tượng trưng cho xe lửa.
-          Chơi tưởng tượng đơn giản, hành động trên người khác: vd.cho búp bê uống sữa…
-          Chơi tiêu biểu bằng cách dùng tối thiểu 2 hành động trên bản thân.Vd: giả vờ rót nước  và uống bằng ly; đội nón và đẩy xe tải chứa đồ chơi quanh nhà, chất khối lên xe rồi đổ khối xuống khi xe dừng lại…
2.      Phát triển kỹ năng xã hội
·         Chơi một mình
Nguyên tắc chính là hỗ trợ trẻ tương tác với người khác:
-          Người chăm sóc ngồi bên cạnh trẻ cố gắng gây sự chú ý của trẻ đang chơi bằng cách bắt chước hành động và âm thanh của trẻ, hoặc chơi với một đồ vật trẻ thích và giúp trẻ tham gia chơi khi trẻ đến gần để lấy lại món đồ chơi.Người lớn chơi ở tầm mức của trẻ với những đồ chơi trẻ thích như: nước/cát, khối, bột nắn, âm nhạc…
·         Chơi song song
Nguyên tắc chính ở giai đoạn này là giới thiệu trò chơi khám phá và xã hội nhiều hơn. Vd. chia sẻ sự chú ý lien kết, đáp ứng với những nhu cầu cơ bản, động viên chơi luân phiên.
-          Ví dụ: bố trí một cặp người lớn với trẻ ngồi cạnh một cặp người lớn và trẻ khác. Mỗi cặp chơi giống nhau, và người lớn kéo sự chú ý của trẻ qua cách chơi của cặp kia. Khuyến khích mọi cố gắng của trẻ quan tâm và chia sẻ sinh hoạt với cặp kia.
·         Chơi hợp tác:
Trò chơi này cần được phân ra nhiều bước cụ thể. Một trong những nguyên tắc khi chơi với trẻ tự kỷ ở giai đoạn này là nới rộng nhu cầu tương tác với người khác; động viên sự chọn lựa; tiếp tục nhấn mạnh chia sẻ chú ý liên kết; phát triển kỹ năng đương đầu với việc thay đổi sinh hoạt/chuyển tiếp; và chờ đến phiên.
Ví dụ: Giới thiệu sinh hoạt nhóm như hát/chơi nhạc, chơi nước/cát, trò chơi xây dựng chung. Dùng lời nói đơn giản và/hoặc công cụ nhìn để minh họa những hành động trẻ cần thực hiện trong sinh hoạt, làm mẫu cho trẻ xem . Dùng “hộp hòan tất” để cho trẻ biết khi nào kết thúc trò chơi.
CHUẨN BỊ SINH HOẠT CHƠI
-          Chọn 2-3 đồ chơi trẻ thích dung
-          Quyết định mục tiêu trong phiên trị liệu
-          Chỉ giới thiệu một kỹ năng hoặc một nâng đỡ thị giác mới cho mỗi phiên trị liệu, và tập trung vào kỹ năng mới ngay từ đầu.
-          Chọn địa điểm mà trẻ thích chơi
-          Có sẵn hình ảnh các đồ chơi trẻ thích để giao tiếp với trẻ trong khi chơi
-          Đảm bảo nét vui tươi cho cả trẻ và người lớn bằng cách giới hạn thời gian chơi trong vòng 5-15 phút khi bắt đầu
-          Đổi đồ chơi và sinh hoạt để giữ cho trò chơi lý thú và hấp dẫn.       
Kết luận:
Tự kỷ ảnh hưởng trên sự phát triển của trẻ trong ba lĩnh vực then chốt là kỹ năng xã hội, giao tiếp và hành vi. Sự khiếm khuyết trong tất cả ba lĩnh vực trên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của việc chơi; và ngược lại, sự tổn thương trong kỹ năng chơi cũng ảnh hưởng trên sự phát triển xã hội, giao tiếp và những kỹ năng khác liên quan đến nhận thức của trẻ. Ước mong các bậc phụ huynh và giáo viên làm việc với trẻ tự kỷ có thể giúp trẻ phát triển qua việc chơi với trẻ trước khi tập trung dạy trẻ biết nói, đọc, viết và làm toán.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Autism Association of Western Australia: Let’s Play! Facilitating interactive play skills in children with Autism.2008  

Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ và Các xu hướng giáo dục cơ bản


Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ và
Các xu hướng giáo dục cơ bản

TS.Trương Thị Xuân Huệ
Khoa Giáo dục Đặc biệt,
Trường Cao đẳng Sự phạm TW. TP.Hồ Chí Minh

Để có thể giáo dục được trẻ tự kỷ nhất thiết chúng ta phải bàn đến đặc điểm tâm lý của những trẻ đó. Những dấu hiệu tâm lý đặc trưng, chứ không phải các dấu hiệu bệnh lý từ góc độ tâm lý học lâm sàng, mới có thể là căn cứ để xây dựng kế hoạch giáo dục cho trẻ khuyết tật, trong đó có trẻ tự kỷ.
Nếu căn cứ vào các dấu hiệu: không chỉ tay, không giao tiếp mắt… thì không thể lập được kế hoạch giáo dục mang tính điều chỉnh các rối loạn tâm lý thực có ở trẻ tự kỷ. Vậy rối loạn tâm lý thực có ở trẻ tự kỷ là gì?
Các công trình nghiên cứu về tự kỷ đã thay đổi rất nhiều trong 20 năm gần đây. Lúc đầu (khi người ta coi tự kỷ là một dạng của tâm thần phân liệt) người ta mô tả người tự kỷ là người có hành vi bất thường và rối loạn. Họ là những người lo lắng khi cảm thấy mọi người không giống mình, không thể hiểu nổi. Nhưng dần dần các nhà tâm lý cho rằng người tự kỷ có một số rối loạn đặc trưng, nhưng phần lớn hành vi của họ vẫn nằm trong tuyến phát triển bình thường. Các nhà tâm lý xem tự kỷ là dạng tổn thương phát triển. Hơn nữa các nhà tâm lý đều khẳng định trẻ chậm phát triển trí tuệ cũng gặp khó khăn trong việc hiểu ý nghĩa của bức tranh và các đối tượng khác nhau, nhưng chúng không được coi là tự kỷ. Sự khác biệt rõ nét là trẻ tự kỷ không hiểu ký hiệu ở mức độ tương ứng với tuổi trí tuệ của mình.
Người tự kỷ đặc trưng bởi sự phát triển phiến diện. Giao tiếp, tương tác xã hội, tưởng tượng là các bình diện tâm lý rối loạn nhiều nhất. Đây là nhận định của K.Gilbert và T. Piters (nhà tâm lý học Bỉ) và học đã đưa ra thuật ngữ “Hội chứng quá thực”.
TỰ KỶ LÀ HỘI CHỨNG QUÁ THỰC
Stephan 7 tuổi. Khi cha em mở cửa toalet, em gào lên “Thằng bé dơ bẩn”. Theo Stephan, đó chỉ là cách gây chú ý cho người khác. Khi em nhìn thấy cửa mở em cũng nói “Bây giờ chúng ta ăn mứt tướng quân”. Khi nghe thấy máy phát thanh, em nói “Yên nào, mày chỉ phá thôi”.
“Tôi nhìn mọi người, xem cách họ giao tiếp với nhau, phân loại dạng hành vi của họ, ghi chép lại và học thuộc lòng, sau đó cố gắng hiểu các hành vi đó. Cuối cùng, tôi rơi vào tình huống tương tự hành vi của tôi vẫn khác mọi người”- Stephan tâm sự khi em đã thành người lớn. “Tất cả tư duy của tôi đều là bằng mắt, tôi suy nghĩ chậm, dường như trong tôi quá trình hình thành hình ảnh thị giác về cái tôi nghe được, hình ảnh trong trí não (hình ảnh tưởng tượng) bị mất một vài khoảnh khắc. Tôi không thể nào hiểu được mọi người nói gì với tôi, trừ khi tôi có thể chuyển những lời mọi người nói với tôi về hình ảnh thị giác, … Phần lớn những người bình thường suy nghĩ bằng lời, nhưng quá trình tư duy ngôn ngữ thật sự xa lạ với tôi. Tôi luôn luôn suy nghĩ bằng hình ảnh. Tư duy bằng mắt đối với tôi là sự phân tích cuốn phim thành cuốn băng ghi âm trong trí nhớ, quá trình này chậm hơn tư duy ngôn ngữ rất nhiều. Việc phân tích cuốn phim trong tưởng tượng của tôi sẽ bị mất một vài khoảnh khắc ”- tâm sự của Templ Grendin.
Templ Grendin tâm sự rằng hiện nay, trong trí nhớ của cô ta có rất nhiều đoạn phim. Những đoạn phim đó giúp cô ta hiểu cuộc sống xung quanh (hiện thực khách quan). Nhưng đôi khi cô ấy thấy người ta làm những việc mà cô ấy cảm thấy không thể hiểu nổi vì không có cuốn phim nào trong đầu cô ta thích hợp với việc đó.
Những người kể trên được xem là hiện tượng tự kỷ. Stephan không phải là trẻ vô giáo dục với những lời lẽ bất nhã. Vấn đề là trước đó vài năm, bố Stephan tức giận vì em ị đùn, ông lôi em về phía toalet, mở cửa đẩy em vào và nói “Thằng bé dơ bẩn”. Những lời lẽ đó đã liên kết với hình ảnh cái toalet giống như mọi từ vựng đều liên kết với những đồ vật tương ứng.  Nhưng Stephan thật sự không hiểu ý nghĩa của cả lời nói. Em nhìn đồ vật (toalet) và nhại lại từ vựng đã bị liên kết với đồ vật đó. Em cố gắng hiểu nghĩa của những từ đó nhưng vẫn không hiểu. Lịch sử bệnh lý của em cho thấy tự kỷ không đồng nghĩa với ý thích từ chối giao tiếp xã hội. Stephan cho thấy tự kỷ là dạng mong muốn giao tiếp xã hội bất thường. Lịch sử bệnh lý của Stephan cho thấy em biết nhiều nhưng không có biểu tượng mang tính thực tiễn về cuộc sống hiện thực. Em mất mối liên hệ với thế giới con người.
Có nhiều ví dụ cho thấy sự khó khăn của trẻ tự kỷ trong việc hiểu hành vi của người bình thường. Người tự kỷ đối chiếu từng dạng hành vi của con người với từng tình huống, cố gắng hiểu các chi tiết trong tình huống đó và điều khiển hành vi của mình cho dễ hiểu đối với mọi người trong xã hội. Nhưng tính đa dạng và không thuần nhất trong hành vi con người trở nên quá khó hiểu đối với họ.
Templ Grendin cho chúng ta thấy sự phụ thuộc của người tự kỷ vào hình ảnh thị giác. Họ suy nghĩ bằng hình ảnh  và không bằng từ vựng, tức là không suy đoán.
Tri giác trực tiếp thông thường được duy trì bởi sự hoạt động không chỉ của một vùng trên vỏ não. Có thuyết cho rằng hoạt động của bán cầu não trái và não phải có sự phân hóa chức năng ngôn ngữ và các chức năng phân tích khác. Phần lớn chúng ta không cảm nhận thấy điều này vì hai bán cầu não hoạt động cân bằng nhau. Nhưng bệnh tật sẽ làm cho chúng ta để ý thấy sự phân hóa này. Người bị bệnh ở bán cầu não phải có thể không có khả năng định hướng trong không gian, nhưng anh ta vẫn duy trì được ngôn ngữ. Khi bị chấn thương não trái, chức năng ngôn ngữ bị tổn thương trầm trọng, nhưng sự định hướng trong không gian vẫn bảo toàn. Như vậy, bán cầu não trái và não phải phân hóa chức năng: bán cầu não phải giữ chức năng tổng hợp hình ảnh; bán cầu não trái có chức năng phân tích logic (ngôn ngữ). Ví dụ trái quýt và trái táo, chúng giống nhau, đều tròn. Ví dụ này liên quan trực tiếp đến sự tổng hợp hình ảnh. Bán cầu não phải ngay lập tức nhận ra hai loại trái cây đều tròn. Khái niệm “tròn” được lưu giữ trong trí nhớ ở bán cầu não phải một cách chi tiết. Đối với bán cầu não trái, táo và quýt giống nhau, đều là trái cây. Đây là một ví dụ về sự phân tích logic. Mệnh đề táo và quýt đều là trái cây không xuất hiện ngay lập tức. Bán cầu não trái cho phép chúng ta hiểu sâu hơn khái niệm chi tiết “tròn”, giúp chúng ta tổ chức quan sát theo các tiêu chí trừu tượng như khái niệm “trái cây”. Đây là ví dụ cho thấy bán cấu não trái phân hóa theo 2 chức năng cân đôi thông tin:
- phân loại tương ứng với sự trừu tượng hóa;
- phân loại tương ứng với việc thông tin được tri giác như thế nào.
Trẻ tự kỷ thiên về phân tích thông tin thu được từ bán cầu não phải và suy yếu chức năng hoạt động của não trái. Việc Stephan nhắc đi nhắc lại những câu nói được gọi là nói tiếng vọng. Stephan máy móc nhắc lại những câu nói nhiều hơn là chú ý đến ý nghĩa của câu nói. Không ai chấp nhân ngôn ngữ tiếng vọng, người ta xem đó là sự bất thường. Nhưng hiện tượng Ngôn ngữ tiếng vọng rất phổ biến trong tiến trình phát triển bình thường: bắt chước ngôn ngữ sảy ra trước việc hiểu ngôn ngữ việc sử dụng ngôn ngữ để biểu cảm.
Ngôn ngữ là một quá trình trừu tượng và phức tạp. Phân nửa trẻ tự kỷ có thể nói được nhưng chúng sử dụng chức năng của não phải trong việc thu thập thông tin thính giác. Ngôn ngữ tiếng vọng là ngôn ngữ được điều khiển bởi bán cầu não phải, nó thực sự không được phân tích từ góc độ ý nghĩa, nó được lưu giữa trong não và là kết quả của sự tái tạo. Hiện tượng ngôn ngữ tiếng vọng không có gì bất thường, trẻ bình thường khi học nói cũng làm như vậy. Trẻ nhắc lại nguyên câu hoặc một đoạn đàm thoại mà không có sự hiểu biết thực sự và không dùng vào việc tương tác xã hội với người khác. Đôi khi chúng ta học ngoại ngữ ở nước dùng phố biến thứ tiếng đó mà không có người dạy cho chúng ta, chúng ta có thể dùng phương pháp nhại âm như ngôn ngữ tiếng vọng. Chúng ta dùng ngôn ngữ tiếng vọng để duy trì một ý nghĩa đối với chúng ta, chúng ta không dùng nó theo đúng nghĩa mà những người khác dùng. Ngôn ngữ này được sử dụng như một đối sách nếu chúng ta muốn đàm thoại nhưng lại không biết làm như thế nào. Nếu hiểu về ngôn ngữ tiếng vọng như thế thì chúng ta sẽ thấy sự đánh giá về trẻ tự kỷ theo cách cũ là không chính xác.
Ngôn ngữ tiếng vọng là một trong những hình thức giao tiếp, là “lộ trình” hướng tới hình thức đúng của việc sử  dụng ngôn ngữ. Bằng lối tiếp cận vấn đề như thế, ngôn ngữ tiếng vọng không phải là thành phần ngôn ngữ cần loại bỏ như người ta vẫn nói, mà là một hình thức ngôn ngữ có chức năng kết nối. Ngôn ngữ tiếng vọng được xem như một hiện tượng đơn giản mặc dù nó rất đa dạng. Ngôn ngữ này bất chơt là sự tái tạo lại câu nói vừa được người khác nói ra, là sự nhắc lại câu nói, từ hoặc âm thanh sau những quãng thời gian nhất định. Ngôn ngữ tiếng vọng bất chợt phản ứng đáp lại ngôn ngữ của ai đó, khi phải trì hoãn việc trả lời, là sáng tạo của trẻ. Có những ngôn ngữ tiếng vọng là sự nhắc lại tỉ mỉ các âm thanh của từ hoặc câu, nhưng có loại là sự nhắc lại có biến đổi âm thanh của từ hoặc câu. Tồn tại rất nhiều dạng ngôn ngữ tiếng vọng gây cản trở cho sự phát triển giao tiếp.
Loại ngôn ngữ tiếng vọng đơn giản và thô sơ nhất là sự nhắc lại âm thanh tựa như tiếng hoảng sợ của súc vật. Cơ chế sinh lý của loại tiếng vọng này là sự kích hoạt của các cấu trúc dưới vỏ não. Trong các hình thức ngôn ngữ tiếng vọng trung gian (với ngôn ngữ bình thường) có những câu được liên kết với một người hoặc một tình huống cụ thể . VD: Tôm nói “Xin hãy dùng thử bánh rán” khi nhìn thấy ông nội. Loại ngôn ngữ tiếng vọng này chứa mầm mống của chức năng giao tiếp, nhưng người mà trẻ muốn giao tiếp không nắm được nội dung thông tin. Người ông không hiểu Tôm muốn chơi trò chơi tiếp, hoặc câu nói đó tựa như một lời chào thay thế cho tên của ông. Ngôn ngữ tiếng vọng như một nỗ lực giao tiếp là loại ngôn ngữ bắt đầu được điều khiển bởi bán cầu não trái.
Trẻ bình thường cũng máy móc nhắc lại từ hoặc câu nhằm gây cảm giác đang ở bên cạnh người thân (“bố mẹ và con”). Đôi khi sự nhắc lại một câu nói giúp trẻ điều khiển hành vi của mình. Từ giây phút trẻ bình thường hiểu được cách sử dụng ngôn ngữ thì trẻ sử dụng một cách sáng tạo theo cách riêng của trẻ. Ơ trẻ tự kỷ ngôn ngư riêng xuất hiện rất trễ so với trẻ bình thường. Trong thời gian đó những đặc điểm cấu âm trong ngôn ngữ của trẻ (ngôn ngữ tiếng vọng) và trí nhớ máy móc từng chi tiết của trẻ vẫn tiếp tục phát triển. Sau một thời gian dài trẻ tự kỷ có thể nói được câu dài và liên kết các câu hoàn chỉnh về mặt cấu âm (âm thanh) như trẻ bình thường.
Tóm lại, người tự kỷ phát âm máy móc các từ mà không chú ý đến nghĩa của từ. Việc sử dụng từ ngữ của người tự kỷ vẫn nằm trong quy luật phát triển ngôn ngữ bình thường, nhưng người tự kỷ không vượt xa hơn mức độ ngôn ngữ tiếng vọng.
Jon 24 tuổi cúi đầu trước tượng chúa. Anh ta không hề biết đây là hình ảnh không có thật, hình ảnh hư cấu từ hiện thực.
Trong hoạt động vui chơi, trẻ 18 tháng tuổi hiểu rất rõ ràng hành động tượng trưng. Trẻ tưởng tượng, hát, nói chuyện bằng điện thoại đồ chơi. Những cái trẻ tạo ra khi đó là một thế giới hoàn toàn khác, thế giới tưởng tượng, cái luôn tồn tại song song với thế giới thực. Trong thế giới tưởng tượng đó trẻ là diễn viên. Khi trẻ được 24 tháng tuổi, trò phát triển cao hơn và thoát ly thực tế hơn: con búp bê trở thành vật sống, trẻ tưởng tượng con búp bê biết hát. Jon băn khoăn về sự tồn tại của trò chơi siêu thực, nhưng anh ta không biết đó là hiện thực biểu trưng (tưởng tượng), không phải hiện thực khách quan.
Người tự kỷ không đạt được mức độ phát triển mà ở đó trò chơi tưởng tượng xuất hiện, nếu có thì cũng rất khó khăn. Họ luôn là người quá thực tế. Từ 18 -24 tháng, về mặt tư duy, trẻ tự kỷ khám phá hiện thực khách quan ở mức độ thấp. Chúng thường tìm cảm giác thị giác và thính giác bằng cách gõ liên tục vào trống hoặc mắt kính hoặc lăn bánh xe trên đồ chơi. Trẻ bình thường cũng làm như vậy nhưng ở độ tuổi nhỏ hơn nhiều.
Người lớn không bị đánh lừa bởi hình ảnh phi thực tế. Ví dụ: hình ảnh từ “quyển sách” không có gì giống với hình ảnh của quyển sách. Và hình ảnh quyển sách cũng không có gì giống với âm thanh khi phát âm từ “quyển sách”. Chúng ta hiểu xe đồ chơi là ký hiệu của xe thật, búp bê là vật tượng trưng của người thật, chúng ta luôn hiểu quan hệ giữa cái tượng trưng và cái thật. A.M. Leslie,1983; U.Frith, 1989 (nhà tâm lý học Anh) cho răng người tự kỷ có mức độ phát triển trí tuệ cao có thể hiểu: hiện thực khách quan được diễn tả bằng ngôn ngữ (ngôn ngữ là ký hiệu của hiện thực khách quan), nhưng họ rất khó khăn trong việc biết: ngôn ngữ không thể hiểu kiểu nhìn chi tiết đồ vật, ngôn ngữ là thế giới không thật, thế giới đó được giải mã bằng xảo thuật tìm “ý nghĩa từng chi tiết” trong hệ thống ký hiệu. Để lĩnh hội năng lực tưởng tượng nhất thiết phải vượt qua giới hạn tri giác chi tiết đồ vật. Dạng tư duy của người tự kỷ bị giới hạn bởi tri giác chi tiết từng đồ vật. Sự khiếm khuyết về tưởng tượng thật sự có ảnh hưởng lớn. Người tự kỷ là người quá thực trong thế giới những người siêu thực.
Từ những hiểu biết về tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ của trẻ tự kỷ chúng ta sẽ định hướng được nhiệm vụ giáo dục nhằm giúp trẻ thích nghi với thế giới con người siêu thực (con người luôn phân định hiện thực khách quan và hiện thực tưởng tượng).
Nhiệm vụ cơ bản của quá trình phát triển tư duy cho trẻ tự kỷ là phát triển tư duy logic trên nền tư duy trực quan hình ảnh, tức phối hợp hoạt động của não phải với não trái.
Nhiệm vụ cơ bản của quá trình phát triển tưởng tượng cho trẻ tự kỷ là giúp trẻ phân biệt hiện thực khách quan với bình diện ký hiệu của hiện thực khách quan đó.
Nhiệm vụ cơ bản của quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ là phát triển ngôn ngữ tiếng vọng thành ngôn ngữ bình thường, chứ không phải xóa bỏ ngôn ngữ đó.
Tóm lại, giáo dục trẻ tự kỷ là một quá trình rất đặc thù, không giống với việc giáo dục các dạng tật khác, đòi hỏi sự phối hợp của các chuyên gia tâm lý chuyên ngành sâu về trẻ tự kỷ với giáo viên giáo dục đặc biệt. Đó là quá trình tác động mang tính tâm lý – giáo dục học, được thiết kế phù hợp với các đặc điểm tâm lý thực có ở trẻ dạng tật này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      K.Gilbert vaø T. Piters (taâm lyù hoïc Bæ)  “Аутизм медицинскоe и пeдагагическоe ваздействие. – M. 2005.
2.      Формирование активных способов адаптации у аутичных детей с помощью игротерапии // Вестник Московского Университета 1993.- №1.-С.69.
3.      Использование поведенческой терапии аутичных детей для форми­рования навыков бытовой адаптации. Сообщение I // Дефектология. - 1997. -№2.-С.31-40.
4.      Использование поведенческой терапии аутичных детей для форми­рования навыков бытовой адаптации. Сообщение II // Дефектология. - 1997. - №3. - С. 15-20. (в соавторстве с О.Н. Окуневой).
5.      Общие трудности бытовой адаптации аутичных детей. // Аутичный ребенок: проблемы в быту. Методические рекомендации по обучению социально-бытовым навыкам аутичных детей и подростков. - М., 1998. - С.9-50.

ĐẶC ĐIỂM CỦA RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ


ĐẶC ĐIỂM CỦA RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ
                                                            
                                                                              PGS. TS. Nguyễn Văn Thọ
Phó Trưởng Khoa Tâm lý, ĐH Văn Hiến
Theo quan niệm hiện nay, rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder) nằm trong những rối loạn chung, gọi là những rối loạn phát triển lan tỏa (Pervasive Developmental Disorder). Đó là những rối loạn khởi phát sớm ở trẻ em, đặc trưng là trẻ bị chậm trễ trong quá trình phát triển về mặt xã hội, về giao tiếp và về các kỹ năng khác. Một đặc điểm điển hình là, trong khi trẻ thiếu hứng thú với môi trường xã hội thì trẻ lại có những hành vi đáp ứng với môi trường vô tri vô giác và đáp ứng một cách khác lạ. Nó bao gồm các loại vận động rập khuôn, chống lại sự thay đổi và những hứng thú, bận tâm vào sở thích riêng.
Theo phân loại của DSM-IV, Rối loạn phát triển lan tỏa bao gồm:
          -Rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder),
          -Rối loạn Rett (Rett’s Disorder),
          -Rối loạn Asperger (Asperger’s Disorder),
          -Rối loạn tan rã trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder),
          -Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu khác.
Vì rối loạn tự kỷ không phải là một rối loạn đơn lẻ, mà nó bao gồm một loạt những hội chứng có những đặc điểm chung, nên người ta còn gọi là “Rối loạn phổ tự kỷ”. Dưới đây sẽ trình bày 2 rối loạn điển hình với trẻ em tự kỷ nhất, đó là Rối loạn tự kỷ và về Rối loạn Asperger.
RỐI LOẠN TỰ KỶ
Định nghĩa: Rối loạn tự kỷ là những rối loạn phát triển lan tỏa, xuất hiện sớm ở trẻ thơ. Nó biểu hiện một sự suy giảm nổi bật và kéo dài trong 3 lĩnh vực: tương tác xã hội, lệch lạc trong giao tiếp và hành vi, hứng thú theo một mô hình hạn chế hoặc rập khuôn. Sự khác thường trong các chức năng ở 3 lĩnh vực nêu trên, còn được coi là “bộ ba thiếu sót”, rối loạn này thường biểu hiện ở thời kỳ trước 3 tuổi, và có khoảng 70% trẻ rối loạn tự kỷ có chậm phát triển tâm thần. Rối loạn tự kỷ được Leo Kanner (Mỹ) mô tả 11 trường hợp đầu tiên vào năm 1943.
Đặc điểm lâm sàng
Tuổi khởi phát: Khởi phát của rối loạn tự kỷ hầu hết là trước 3 tuổi. Cha mẹ bắt đầu quan tâm, lo lắng đến trẻ vào 12 – 18 tháng tuổi, khi thấy ngôn ngữ trẻ không phát triển. Hầu hết cha mẹ quan tâm lo lắng rõ rệt vào lúc trẻ 2 tuổi và 3 tuổi. Nếu sau 3 tuổi, trẻ mới khởi phát bệnh thì được chẩn đoán là tự kỷ không điển hình. Lúc đầu, hầu hết cha mẹ lo lắng rằng con mình bị điếc, nhưng rồi cha mẹ nhận thấy rằng trẻ có đáp ứng với tiếng động trong môi trường, điều này chứng tỏ không phải trẻ bị điếc.
Đôi khi cha mẹ cho biết trẻ phát triển “khá tốt” như biết làm một số điều theo yêu cầu và cũng có một ít hứng thú trong mối tương tác xã hội. Khoảng 20 – 25% trường hợp, cha mẹ cho biết trẻ đã phát triển một số ngôn ngữ và sau đó giữ ở mức độ đó hoặc mất đi.
Bộ ba thiếu sót
-    Suy giảm chất lượng trong tương tác xã hội: Ở trẻ nhỏ phát triển bình thường, trẻ có hứng thú đặc biệt với môi trường xã hội và tương tác xã hội. Khuynh hướng này là nền tảng quan trọng cho sự phát triển các kỹ năng khác.
Đối với trẻ tự kỷ, khuôn mặt con người ít hoặc không gây hứng thú với chúng. Trẻ có khó khăn trong mối tương tác xã hội, hay nói cách khác, trẻ khó khăn trong việc hiểu xã hội và hành vi xã hội. Cụ thể là trẻ khó khăn trong việc hiểu hành vi của các bạn mình, không thể “đọc” được các ý định của bạn. Ở những trẻ phát triển bình thường, điều này không cần phải dạy, trẻ có thể tự làm một cách dễ dàng. Với trẻ rối loạn phổ tự kỷ, sự suy nghĩ của người khác hay ý kiến của người khác có thể rất ít hoặc không có tác dụng đối với trẻ.  Trong khi đó trẻ có thể nói và làm chính xác điều gì khi trẻ muốn.
Trẻ rối loạn phổ tự kỷ khó chơi và giao tiếp một cách hiệu quả với trẻ em khác. Trẻ không tham gia các trò chơi bình thường của tuổi trẻ thơ, sự bắt chước khó khăn, thiếu các kỹ thuật chơi thông thường. Khi người lớn không hiểu vấn đề tự kỷ của trẻ, có thể cho là trẻ hư hỏng, không vâng lời, lười biếng, trong khi thực ra trẻ không hiểu tình huống, nhiệm vụ hoặc không đọc được ý định và cảm xúc của người lớn một cách chính xác.
-    Suy giảm chất lượng trong giao tiếp ngôn ngữ miệng và trò chơi: Có tới 50% trẻ rối loạn tự kỷ không biết nói. Thông thường, trẻ bình thường biết phát ra những âm thanh bi ba bi bô, còn ở trẻ tự kỷ ít khi có hoặc hoàn toàn không có. Trẻ nhỏ tự kỷ có thể nắm tay cha mẹ hướng đến đối tượng mà nó muốn, nhưng nó không biết dùng giao tiếp mắt để cho biết ý muốn.
Do trẻ tự kỷ chỉ hiểu nghĩa đen, không hiểu nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ, nên trẻ không lĩnh hội được ý định của người nói chuyện với mình, điều này khiến trẻ tự kỷ cảm thấy rất bối rối. Bởi vậy, lời nói đùa, hài hước, châm biếm có thể khiến trẻ lúng túng, rối loạn.
Trẻ tự kỷ không có động cơ thúc đẩy để tham gia giao tiếp, không có cố gắng để giao tiếp qua các phương tiện phi ngôn ngữ. Trong khi ở trẻ bị câm/điếc, để khắc phục thiếu sót về ngôn ngữ, trẻ cố gắng dùng các hình thức phi ngôn ngữ để giao tiếp.
Khi trẻ rối loạn tự kỷ nói, ngôn ngữ của chúng đặc biệt khác thường thể hiện như sau:          trẻ có thể nhại lại những gì chúng đã nghe, trẻ kém linh hoạt, không nhận thức được sự thay đổi vai (ngôi) người nói nên lẽ ra phải thay đổi đại từ nhân xưng, trẻ lại không làm được. Điều này dẫn đến sự đảo lộn đại từ, thí dụ, tự xưng mình là “nó”. Lời nói của trẻ không có sự tương hỗ lẫn nhau. Trẻ có thể đưa ra lời nói mà không có ý nghĩa giao tiếp. Trong khi ngữ pháp và hình thái ngôn ngữ khá dư thừa, thì vốn từ và ngữ nghĩa lại rất thấp. Thường ngữ điệu của giọng nói đơn điệu, đều đều, buồn tẻ giống như người máy.
Sự yếu kém trong các trò chơi thể hiện trẻ không có khả năng tham gia các kiểu chơi tượng trưng, tưởng tượng. Với đồ chơi, trẻ thường thăm dò khía cạnh không phải là chức năng của đồ vật. Thí dụ, nếm hoặc ngửi đồ vật, xoay tròn bánh xe,… Để khắc phục thiếu sót trên, phải dạy trẻ về mục đích giao tiếp, biết sử dụng các phương tiện để truyền đạt, giao tiếp cho phù hợp với trẻ như dùng hình vẽ, tranh ảnh, điệu bộ, cử chỉ, nói hoặc viết, và dạy cách thức để truyền đạt chúng.
-    Hoạt động và hứng thú hạn chế rõ rệt: Ở thiếu sót này, cũng có thể nói là trẻ rối loạn tự kỷ có yếu kém về suy nghĩ và ứng xử linh hoạt tùy theo tình huống. Trẻ rối loạn tự kỷ thường khó chịu đựng nổi sự thay đổi những thói quen thường ngày. Thí dụ, nếu ta cố gắng làm thay đổi trình tự thông thường của một số hoạt động của trẻ, trẻ có thể xuất hiện sự đau buồn thê thảm. Thay đổi một thói quen hay môi trường có thể gây ra sự chống đối quyết liệt hoặc lúng túng, rối loạn. Trẻ không chơi với đồ chơi theo cách thức thông thường mà thường xoay tròn, hoặc đập đập, vỗ vỗ vào đồ vật. Trẻ cũng thích xem những phần chuyển động của đồ chơi hay máy móc trong thời gian rất lâu và với sự hứng thú rất tăng. Thí dụ, trẻ rất thích những đồ vật xoay tròn như xem rất lâu cái quạt trần quay. Trẻ tỏ ra hứng thú với hành động lặp đi lặp lại như thu lượm những sợi dây, nhớ những con số, nhắc đi nhắc lại những từ, những câu nhất định. Đặc biệt, trẻ có thể bắt chước điều chúng đã quan sát để chơi như chơi làm người dơi hay siêu nhân, nhưng không thể cùng chơi tưởng tượng với người bạn khác. Trẻ có khuynh hướng gắn bó với một số chất liệu đồ vật cứng hơn là vật mềm. Trẻ thích một loại đồ vật nào đó về hình thức hơn là sự đặc biệt hoặc tầm quan trọng của đồ vật và luôn giữ chúng bên mình. Trẻ có các vận động kỳ dị, rập khuôn như đi trên đầu ngón chân, búng búng ngón tay, quay quay người…một cách thích thú, dễ chịu.  
Những đặc điểm kết hợp
Về nhận thức: Trước đây Kanner cho rằng, trẻ rối loạn tự kỷ có tiềm năng nhận thức tốt, ngày nay người ta thấy không phải như vậy. Khoảng 75 – 80% trẻ tự kỷ có chậm phát triển tâm thần, trong đó khoảng 30% mức độ nhẹ đến trung bình và khoảng 45% mức độ nặng đến rất nặng.
Trẻ có thiếu sót đáng kể trong các lập luận trừu tượng, những thông tin khái niệm miệng, các kỹ năng tổng hợp thành một hệ thống. “Không có khả năng hình dung ra cái cây từ những cái lá”. Trong khi đó, trẻ có khả năng học vẹt, nhận thức được từng phần riêng lẻ, cụ thể mà không đòi hỏi phải suy luận tổng thể.
Một đặc điểm khá đặc biệt là trẻ rối loạn tự kỷ có khả năng đặc biệt ở một số lĩnh vực riêng lẻ. Thí dụ trẻ có thể đọc những chữ và những con số phức tạp, tuy hiểu biết ý nghĩa về chúng rất kém. Trẻ có thể học thuộc lòng các danh sách hoặc các thông tin không quan trọng, có thể tính toán lịch ngày tháng, có thể phát triển kỹ năng không gian – thị giác như vẽ, hoặc phát triển các kỹ năng âm nhạc như phân biệt độ cao, thấp của các nốt nhạc và có thể chơi các mẩu nhạc sau khi chỉ nghe một lần. Đó là sự thiếu cân đối trong học vấn.
Sự bất thường về hành vi vận động: Vận động bất thường đặc trưng của trẻ tự kỷ là những vận động rập khuôn như đập đập tay, đung đưa thân thể, vặn vẹo ngón tay, vẫy vẫy trước mắt, lặp lại động tác của người khác và các vận động kỳ quặc, thiếu mục đích khác. Những rối loạn vận động này thường ở 3 – 4 tuổi, ít gặp ở tuổi lớn hơn và vị thành niên.
Những đáp ứng không bình thường với những kích thích cảm giác: Trẻ em rối loạn tự kỷ có đặc trưng ở cả hai khía cạnh là tăng nhạy cảm và giảm nhạy cảm với kích thích cảm giác. Trẻ có thể rất nhạy cảm với tiếng động, thí dụ, bịt tai lại khi nghe tiếng máy hút bụi hoặc tiếng chó sủa. Những trẻ khác lại không nghe (như phớt lờ) với tiếng động lớn, nhưng lại bị lôi cuốn bởi tiếng tích tắc yếu ớt của đồng hồ đeo tay hoặc âm thanh vò nhàu tờ giấy. Một số trẻ có thể sợ ánh sáng chói, nhưng số khác lại thích thú với kích thích ánh sáng như thích nhìn đối tượng tiến lên và lùi lại trước mắt chúng. Có trẻ tăng nhạy cảm với cảm giác xúc giác như rất thích sờ vào những thớ vải mịn, nhưng có trẻ lại giảm nhạy cảm với cảm giác xúc giác như không biết đau. Có khi trẻ không hề khóc trước chấn thương khá nặng.
Những rối loạn giấc ngủ và ăn uống: Những rối loạn về giấc ngủ và ăn uống có thể gây phiền toái lớn cho gia đình trong suốt thời thơ ấu của trẻ. Trẻ tự kỷ thường vận động nhiều trong khi ngủ và thức giấc về đêm trong thời gian dài. Rối loạn ăn uống liên quan đến việc trẻ ghét một số thức ăn nhất định do vẻ nhìn bề ngoài, màu sắc hoặc mùi vị thức ăn. Trẻ thường khăng khăng chỉ ăn một số ít loại thức ăn nhất định và từ chối ăn món mới lạ
Rối loạn cảm xúc: Điều phổ biến ở trẻ tự kỷ là khó di chuyển cảm xúc và biểu lộ cảm xúc không phù hợp với tình huống xã hội. Một số trẻ biểu hiện thay đổi khí sắc một cách đột ngột và cười, khóc, hoặc cười một mình không có lý do rõ ràng. Trẻ lớn hơn có thể biểu hiện lo âu hoặc trầm cảm.
Hành vi tự gây tổn thương và công kích người khác: Trẻ nhỏ tự kỷ có thể cắn bàn tay hay cổ tay mình đến chảy máu và thành chai sẹo. Trẻ cũng có thể tự véo da, kéo tai hoặc tự đánh mình. Đặc biệt ở trẻ kèm chậm phát triển tâm thần thì tự đập đầu khiến phải dùng mũ bảo hiểm hoặc các biện pháp bảo vệ khác. Trẻ thường biểu hiện tính khí giận dữ khi phản ứng lại với những điều yêu cầu trẻ phải tuân theo, thay đổi thói quen hoặc các sự kiện chúng không mong đợi khác.
Rối loạn co giật: Động kinh xảy ra trong khoảng 10 – 35% trẻ rối loạn tự kỷ. Cơn co giật có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở tuổi thơ ấu sớm và tuổi vị thành niên. Cơn khởi phát liên quan đến tình trạng bệnh xấu hơn.
Những đặc điểm cơ thể: Trẻ tự kỷ có tỷ lệ cao hơn về dị tật tai.
Dịch tễ học
Tỷ lệ: Nghiên cứu dịch tễ học đầu tiên tiến hành năm 1966 tại Tây Bắc London là 4,5/10.000 trong trẻ từ 8 – 10 tuổi. Các nghiên cứu sau đó: 4 – 5/10.000 trẻ. Nhiều nước cho thấy: 2 – 4/10.000 trẻ.
Tỷ lệ theo giới tính:  Nam nhiều hơn nữ:  3,5 – 4 nam/ 1 nữ.
Tầng lớp xã hội: Trong nghiên cứu của Kanner cho thấy có mối liên quan giữa tự kỷ và tình trạng kinh tế xã hội cao. Tuy nhiên một số tác giả khác nghiên cứu sau đó không thấy mối liên quan này.
Nguyên nhân
Các lý thuyết về tâm lý xã hội: Qua nghiên cứu nguyên gốc của Kanner, các yếu tố cảm xúc có thể liên quan đến phát sinh chứng tự kỷ, khiến người ta kết luận rằng chứng bệnh gây ra do một người mẹ “tủ lạnh”, người không đáp ứng nhu cầu cảm xúc của trẻ em. Tác giả Bruno Bettelheim đã đề nghị liệu pháp tâm lý sâu cho mẹ và con, hoặc đôi khi phải di chuyển trẻ em khỏi gia đình để cố gắng chữa trị cho trẻ. Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy cố gắng như vậy là có hiệu quả. Những nghiên cứu trước đây đã khiến những  người mẹ bị chấn thương tâm lý vì bị trách cứ và đổ lỗi cho tình trạng con cái của họ.
 Các lý thuyết sinh học: Hiện tại có một sự nhất trí rằng rối loạn tự kỷ là một hội chứng hành vi được gây ra bởi một hoặc nhiều yếu tố đang hoạt động trong hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, sự bất thường sinh học nền tảng của rối loạn tự kỷ chưa được biết.
Các yếu tố gene: Ấn tượng trước đây là các yếu tố di truyền không có vai trò trong bệnh sinh tự kỷ. Ngày nay, vai trò của yếu tố gene trong tự kỷ đang ngày càng thấy rõ hơn. Tuy nhiên, mô hình đặc hiệu của di truyền còn chưa rõ.
Các yếu tố chu sinh: Một số nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ tăng lên của những biến chứng trước khi sinh, khi sinh và mới sinh trong rối loạn tự kỷ. Nhiều quan sát thấy rằng có một cái gì đó không bình thường ghi nhận ở trẻ lúc sinh, điều này phản ánh hoạt động của các yếu tố gen và chu sinh. Gene tác động với yếu tố sinh sản, tạo ra triệu chứng tự kỷ.
RỐI LOẠN ASPERGER
Rối loạn được Hans Asperger (Áo) mô tả năm 1944 về những trẻ tự kỷ có ngôn ngữ nói tương đối tốt, thậm chí có khả năng dùng nó cho giao tiếp. Đó là một mẫu tự kỷ nhẹ, trung gian giữa tự kỷ và bình thường. Khởi phát sau 2 tuổi.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG NHÌN NHẬN VỀ TRẺ RỐI LOẠN TỰ KỶ
Sức mạnh ưu thế của trẻ: Thường chúng ta quan niệm chưa thật đúng đắn khi cho rằng trẻ tự kỷ có thiếu sót xã hội nên tập trung đơn thuần và cực đoan, mang tính áp đặt vào sửa chữa cho trẻ. Đúng ra, chúng ta phải hiểu trẻ trên bối cảnh kỹ năng của trẻ để làm sao truyền đạt cho trẻ phương tiện và cách thức giao tiếp hiệu quả hơn. Chúng ta hiểu trẻ có thế mạnh như thế nào? Thường là: Trẻ có khả năng tập trung vào chi tiết, hoặc nhìn thế giới theo cách thức khác thường, có khả năng trong nghệ thuật, âm nhạc hay thơ ca, trẻ có khả năng tập trung lâu vào hoạt động đơn lẻ nếu nó hứng thú với trẻ. Trẻ có khả năng xử lý thông tin thị giác tốt hơn thông tin thính giác. Do chú ý thu gọn vào nhiệm vụ, nên trẻ có thể đạt thành tích cao về kỹ năng hoặc công việc, có thể vượt qua giới hạn mà người bình thường dễ mệt mỏi. Có thể thành công ở những lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ kỹ thuật hay toán học. Thí dụ, khoa học kỹ thuật, âm nhạc, công nghệ thông tin…
Vấn đề chẩn đoán trẻ tự kỷ: Hầu hết trẻ rối loạn phổ tự kỷ phát triển bệnh trong 3 năm đầu của cuộc sống. Người ta có thể nhận biết và chẩn đoán trẻ rối loạn tự kỷ ở 18 tháng tuổi, nhưng thực tế trong thực hành, chẩn đoán hiếm khi được đưa ra trước 24 tháng tuổi. Với những trẻ mà có một số kỹ năng phát triển phù hợp ở lứa tuổi thông thường, hoặc tiến bộ hơn trẻ đồng lứa trong một số lĩnh vực như tính toán, đọc chính xác, trí nhớ sự kiện…thì rối loạn tự kỷ không được nhận biết. Do vậy khi trẻ đến tuổi đi học mới được phát hiện chẩn đoán. Có một số trường hợp trẻ được chẩn đoán sau 11 tuổi, do các nhà chuyên môn không phát hiện ra. Nhiều người lớn tự kỷ không được chẩn đoán, hoặc đến nay mới được chẩn đoán là “rối loạn phổ tự kỷ ở người lớn”. Trong thực hành lâm sàng, những loại hành vi mà các nhà chuyên môn tìm kiếm cho chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ, thường là:
+Chậm hoặc không có ngôn ngữ nói. (Nhưng không đúng cho tất cả trẻ).
+Sử dụng bất thường về ngôn ngữ. Thí dụ, nói ngược đại từ nhân xưng, lặp lại kéo dài những từ của người khác nói, vượt xa tuổi sử dụng. Hiện tượng này ví như “chơi” với âm thanh.
+Khó khăn trong việc chơi với trẻ em khác.
+Không giao tiếp bằng mắt một cách thích hợp với người khác.
+Có các hành động và hứng thú bất thường.
+Không biết dùng ngón tay để chỉ trong truyền đạt giao tiếp.
+Đáp ứng một cách bất thường với âm thanh, hình ảnh và các loại vật chất nhất định.
+Chống lại mạnh mẽ nếu ai làm thay đổi các thói quen thường ngày của trẻ.
Để đưa ra một chẩn đoán, cần quan sát chi tiết trẻ sinh hoạt ở nhà, trong các tình huống, kết hợp báo cáo đầy đủ tiền sử của trẻ từ khi mang thai đến hiện tại. Cần khám xét loại trừ các bệnh thực thể khác như động kinh, rối loạn năng lực học tập, các bệnh tai, mắt…
Tiên lượng trẻ tự kỷ khi trưởng thành: Có những người cho rằng trẻ tự kỷ khi lớn lên sẽ khỏi bệnh hoặc không còn dấu hiệu bệnh. Tuy nhiên ngày nay, qua những nghiên cứu dài hạn cho thấy đại đa số trẻ lớn lên vẫn tiếp tục biểu hiện những đặc điểm liên quan đến rối loạn phổ tự kỷ suốt cả cuộc đời. Khi trẻ lớn lên, sự hiểu biết xã hội, khả năng giao tiếp và hành vi xã hội thích hợp hơn. Những kỹ năng của trẻ được cải thiện thông sự dạy dỗ và hỗ trợ thích hợp.
Những tiến bộ này tiếp tục suốt thời trưởng thành. Một số lớn có thể sống một cách độc lập, có đối tác làm việc trong những công việc không cần mức độ hiểu biết và tương tác xã hội cao. Một số khác có thể sống cuộc sống riêng bán độc lập, có sự trợ giúp của gia đình hay dịch vụ chăm sóc khác. Cần nhớ rằng, nhưng người này dù có thể sống, hoạt động như nêu trên, nhưng họ rất dễ bị stress khi phải duy trì “sự tuân thủ” trong cuộc sống. Vì vậy cần trợ giúp họ về phát triển các chiến lược chống đỡ với stress.
Vấn đề hóa dược: Không có thuốc đặc hiệu cho rối loạn tự kỷ. Một số trẻ lớn có chuyển biến khi dùng liều nhỏ thuốc giải lo âu. Thuốc khiến họ có thể thực hiện tốt kỹ năng sống trong tình trạng hay môi trường xã hội dễ khơi gợi lo âu.
          Có khi người ta dùng thuốc kiểm soát hành vi, nhưng rất cẩn thận khi dùng liều quá cao, dùng không thích hợp dễ gây tác dụng phụ ngắn hạn hay dài hạn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.         Jones G., Jordan R., Morgan H. (2001), All about autistic spectrum disorders, The mental health foundation, UK office, London.
2.         Volkmar F.R., Klin A. (2000), Pervasive Developmental Disorders, Kaplan & Sadock’s comprehensive textbook of psychiatry, Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia, PA 19106 USA, vol.2:2659-2677.
3.         Lê Khanh (2004), Trẻ tự kỷ những thiên thần bất hạnh, NXB Phụ nữ.
4.         Notbohm  E. (2010), Mười điều trẻ tự kỷ mong muốn bạn biết, NXB Đại học sư phạm TP.HCM (người dịch: Minh Đăng).
5.         Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em Việt nam (1995), Chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em và vị thành niên, Lớp tập huấn tại Bệnh viện Tâm thần Biên hòa.

CAN THIỆP SỚM CHO TRẺ TỰ KỶ


CAN THIỆP SỚM CHO TRẺ TỰ KỶ

Bs. Nguyễn Minh Tiến
Giảng viên thỉnh giảng Bộ môn Tâm lý, ĐHKHXH&NV Tp. HCM
                                                                               
Bệnh tự kỷ thường không được chẩn đoán mãi cho đến khi trẻ hai tuổi hoặc lâu hơn sau đó, vì vậy khoảng thời gian ấy có thể khiến cho phụ huynh bỏ qua những cơ hội tốt để có thể được giúp đỡ và hướng dẫn những cách thức giải quyết các vấn đề ở đứa con tự kỷ của họ. Nếu bỏ qua giai đoạn sớm này, những phụ huynh thường sẽ nhìn lại những tháng ngày đầu tiên ấy một cách hối tiếc và nghĩ giá mà họ hiểu được vấn đề gì đã xảy ra cho con họ thì cách xử trí của họ hẳn đã tốt hơn biết bao.
Can thiệp sớm là gì? Như thế nào là sớm?
Trong nhiều thập niên qua kể từ nửa cuối thế kỷ 20, trên thế giới đã có nhiều tiến bộ và đổi thay quan trọng về quan niệm cũng như về phương pháp giáo dục cho những trẻ thiểu năng và có vấn đề về phát triển. Từ chỗ trẻ thiểu năng bị lãng quên hoặc bị từ chối không được nhận vào các cơ sở giáo dục, hiện nay các hoạt động giáo dục đã vươn mình ra khỏi khuôn viên nhà trường, đi vào cộng đồng nhằm phát hiện và giáo dục sớm cho trẻ ngay từ khi trẻ còn chưa đến tuổi đi học. Các hoạt động này nằm trong khuôn khổ của những chương trình can thiệp sớm (early intervention) mà hiệu quả to lớn của chúng đã được đa số các nhà giáo dục thừa nhận. Thêm vào đó, mô hình giáo dục từ hình thức thiết lập những trường chuyên biệt đã chuyển đổi dần dần sang hình thức giáo dục hội nhập (intergration; mainstreaming), qua đó ngày càng có thêm nhiều trẻ thiểu năng được sắp xếp vào học chung trong những trường lớp dành cho những trẻ em phát triển tốt.
Tất cả những hướng đi này đều dựa trên một cơ sở triết lý đầy tính nhân bản rằng: những trẻ em thiểu năng là những con người không thể tách rời khỏi sự phát triển chung của toàn xã hội. Các em có quyền được sống, được giáo dục, được phát triển và được đối xử bình đẳng như những con người bình thường. Ở Việt Nam cũng như ở các nước những quyền này đưọc quy định cụ thể và được thực thi bởi pháp luật. Trẻ tự kỷ cũng nằm trong nhóm những trẻ thiểu năng và có vấn đề về phát triển nên cùng chia sẻ nguyên tắc chung trong can thiệp sớm như các trường hợp trẻ thiểu năng khác.
Nói chung, để thực hiện được can thiệp sớm trên trẻ tự kỷ, việc trước tiên phải làm là chẩn đoán sớm, phát hiện sớm chứng tự kỷ ngay trong giai đoạn 3 năm đầu đời, hoặc ít ra cũng phải chẩn đoán và can thiệp trước khi trẻ đến tuổi đi học (dưới 6 tuổi).
Chẩn đoán sớm
Làm thế nào để chẩn đoán sớm là việc ưu tiên phải làm để có thể thực hiện can thiệp sớm. Tự kỷ là loại rối loạn xảy ra sớm trong 30 tháng đầu tiên của đời sống, các dấu hiệu thường biểu hiện và gây chú ý rất sớm cho cha mẹ thường là: chậm biết nói, không giao tiếp với người xung quanh, khó thiết lập quan hệ với trẻ, hạn chế khả năng chơi và những hành vi kỳ lạ, rập khuôn, lập đi lập lại. Để làm tốt công việc chẩn đoán sớm trẻ tự kỷ, rất cần phổ cập các kiến thức và thông tin về các triệu chứng cảnh báo nêu trên cho những phụ huynh đang nuôi con nhỏ. Ngoài ra, cũng cần có sự phối hợp làm việc và thực hiện dịch vụ chuyển gửi giữa các cơ quan, cơ sở có trách nhiệm về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, để có thể không bỏ sót những trẻ có biểu hiện sớm nghi ngờ tự kỷ.
Gia đình là môi trường giúp trẻ phát triển tốt nhất trong những năm đầu đời
Trong 3 năm đầu tiên của cuộc đời, trẻ phát triển rất nhanh chóng. Trong giai đoạn này đứa trẻ bắt đầu phát triển ngôn ngữ, phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm và những kỹ năng cần thiết để thực hiện các kỹ năng trong xã hội.
Trước tiên, trong những năm đầu, phần lớn thời gian của trẻ là ở  với các thành viên trong gia đình. Xét trên phương diện thời gian, gia đình có nhiều cơ hội nhất để chăm sóc sự phát triển của trẻ.
Thứ hai là, không có ai có thể có được tình yêu thương trẻ như là gia đình đối với bé. Bởi vì những người thân trong gia đình trẻ là người nhạy bén nhất đối với trẻ và có thể phản ứng một cách tự nhiên và phù hợp với những nhu cầu và cố gắng giao tiếp của trẻ.
Ở trẻ tự kỷ cũng vậy, trong 3 năm đầu đời, gia đình vẫn là môi trường tốt nhất có thể giúp đỡ trẻ và vì thế mọi chương trình can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ dưới 3 tuổi đều nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của phụ huynh, hỗ trợ và huấn luyện phụ huynh, và làm việc với đứa trẻ thông qua cha mẹ. Đến khi trẻ gần 3 tuổi hoặc đến 3 tuổi, trẻ có thể bắt đầu tham gia vào môi trường mẫu giáo hội nhập (bước thứ 2 của quá trình can thiệp sớm) với mức độ hội nhập tùy thuộc vào khả năng và nhu cầu của từng trẻ.

Can thiệp sớm - Hỗ trợ phụ huynh

Hỗ trợ gia đình là giai đoạn đầu tiên của chương trình can thiệp sớm, một chương trình mà các nhà chuyên môn làm việc với gia đình theo một cách rất thận trọng để hỗ trợ, động viên và cung cấp thông tin giúp gia đình có thể đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ một cách tốt hơn.
Mục tiêu rất rõ ràng của can thiệp sớm là hỗ trợ và làm cho gia đình có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của trẻ một cách tốt nhất với năng lực và khả năng của mình.
Cần bắt đầu can thiệp càng sớm càng tốt, ngay từ khi trẻ nhỏ được phát hiện là bị tự kỷ Việc hỗ trợ, thông tin và khuyến khích trở nên rất có giá trị đối với gia đình.
Giai đoạn đầu tiên của Can thiệp sớm là “Giáo dục phụ huynh” (Parent Education) hay còn gọi “Hướng dẫn phụ huynh” (có lẽ đúng đắn hơn nên gọi là “Hướng dẫn phụ huynh”). Sự hỗ trợ sớm này tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển và giáo dục đối với trẻ trong tương lai. Trong thực tế làm việc chúng tôi nhận thấy rằng một số trường hợp trẻ tự kỷ có thể phải mất vài tuần đến vài tháng để thiết lập một chẩn đoán tương đối chắc chắn, thế nhưng các hoạt động “can thiệp” (nghĩa là chăm sóc, giáo dục, trị liệu cho trẻ) vẫn có thể được tiến hành ngay.
Những tài liệu hướng dẫn phụ huynh cũng cần được soạn thảo, in ấn, phát hành giúp phụ huynh có đủ thông tin để họ có thể giúp đỡ tốt nhất cho con của mình.
Tại CLB Trăng Non chúng tôi giới thiệu phụ huynh đọc tài liệu hướng dẫn trên website của mình:
http://tamlytrilieu.com/tailieu-PH-tuky1.htm
http://tamlytrilieu.com/tailieu-PH-tuky2.htm
http://tamlytrilieu.com/tailieu-PH-tuky3.htm
Tài liệu được dịch từ quyển sách của tác giả Lorna Wing, Autistic Children
Nói chung, ngoài những vấn đề tổng quát của chăm sóc trẻ nhỏ như vệ sinh, dinh dưỡng, sức khỏe..., những nội dung hướng dẫn phụ huynh cho trẻ tự kỷ dưới 3 tuổi quy về ba phần việc chính:
Xử lý những hành vi khó khăn của trẻ: chẳng hạn như la hét, nổi cáu, hành vi có tính hủy hoại, hành vi gây phiền phức nơi công cộng, tính cách khư khư muốn giữ nguyên trạng không chịu thay đổi, những bất thường trong thói quen ăn uống và giấc ngủ, các nỗi lo sợ đặc biệt, quá hiếu động, không biết giới hạn, hoặc những hành vi kỳ dị, hành vi tự gây thương tích, hoặc trạng thái quá khép kín...
Huấn luyện những kỹ năng cơ bản: cải thiện kỹ năng quan hệ của trẻ, tạo thói quen học tập thông qua chơi, tập luyện thói quen vệ sinh và chăm sóc bản thân, hoạt động thể lực, cùng các kỹ năng sinh hoạt thường ngày.
Mở rộng các trải nghiệm xã hội: Thông qua vui chơi giúp trẻ mở rộng tầm hiểu biết thế giới xung quanh (thế giới tự nhiên, các vật thể, cũng như thế giới con người), phát triển kỹ năng ngôn ngữ - giao tiếp, sử dụng đồ chơi đúng công năng và đa dạng hóa các hoạt động chơi, mở rộng các quan hệ xã hội của trẻ với người khác và tập những cách thức ứng xử phù hợp, tăng dần các cơ hội tiếp xúc của trẻ với môi trường xã hội rộng lớn bên ngoài gia đình, du lịch, đi xa, khả năng tự lập khi trẻ lớn dần...
Làm việc và hỗ trợ gia đình
-    Giúp phụ huynh đón nhận thông tin về việc con mình bị tự kỷ và chấp nhận sự thật này
-    Giúp hóa giải các bất đồng giữa phụ huynh trong cách chăm sóc, giáo dục trẻ
-    Giúp phụ huynh chuẩn bị những gì cần thiết trước mắt cũng như lâu dài để sống với đứa trẻ tự kỷ suốt đời
-    Giúp phụ huynh định hình lại những kỳ vọng phù hợp thực tế phát triển của con mình
-    Giúp phụ huynh có những thông tin và kỹ năng để giúp đỡ con
-    Giúp gia đình vượt qua nỗi khó khăn ban đầu cũng như các khó khăn mới có thể liên tục phát sinh trong quá trình chăm sóc trẻ
-    Giúp quân bình đời sống gia đình nói chung vốn có thể bị ảnh hưởng do gánh nặng phải chăm sóc cho đứa con tự kỷ, quân bình lại các chức năng sống của các thành viên khác trong gia đình, nhất là vẫn giúp phát triển những đứa con khác là anh, chị, em của trẻ tự kỷ.
-    Cùng với gia đình bàn bạc, thảo luận, xác định mục tiêu can thiệp và lên kế hoạch cá nhân cho việc giáo dục và chăm sóc trẻ.
Giai đoạn mẫu giáo hội nhập / Giáo dục chuyên biệt
Can thiệp sớm được nối tiếp sang giai đoạn 2 khi trẻ đến tuổi đi mẫu giáo (3-6 tuổi). Lúc này, có nhu cầu xem xét cho trẻ vào mẫu giáo như thế nào.
-    Công tác can thiệp sớm cần phải có sự kết hợp chặt chẽ của nhiều cán bộ chuyên môn thuộc các lĩnh vực khác nhau nhất là giữa bác sĩ nhi khoa, bác sĩ tâm thần nhi, nhà tâm lý, giáo viên mầm non bình thường và chyên viên giáo dục đặc biệt.
-    Hội nhập (integration, mainstreaming) nên là mục tiêu chung trong sự phát triển của các chương trình. Tuy nhiên, tùy theo nhu cầu và mức độ phát triển của mỗi trẻ mà mức độ hội nhập có thể thay đổi nhiều kiểu khác nhau.
-    Những trung tâm can thiệp sớm riêng biệt nên tập trung vào một loại tật riêng để có thể đáp ứng được những nhu cầu đặc biệt riêng cho loại tật đó.
-    Những cán bộ chuyên môn được đào tạo về công tác can thiệp sớm, đặc biệt là nếu bản thân đã là giáo viên thì cần được đào tạo một cách thích hợp để có thể thực hiện được sự hỗ trợ tới các gia đình và giáo viên mẫu giáo với cách hỗ trợ có mục tiêu là làm cho có thể.
-    Lý tưởng nhất là có một nhóm đa chức năng làm công tác can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật. Nhóm này có thể bao gồm: giáo viên chuyên ngành, giáo viên dạy trẻ bình thường, nhà chỉnh âm, chuyên ngành y và những thành viên khác.
Các mức độ hội nhập
Thuật ngữ hội nhập (mainstreaming) được định nghĩa là sự lồng ghép các trẻ thiểu năng vào một lớp học bình thường, trong đó chủ yếu bao gồm những trẻ phát triển tốt. Thậm chí ngày nay, người ta còn sử dụng thuật ngữ “giáo dục không tách biệt” (non-segregated education) hoặc “giáo dục ít hạn chế” (less-restricted education). Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ thiểu năng đều có thể được chăm sóc tốt trong một lớp học bình thường như thế, và ngay cả những trẻ được đưa vào các lớp bình thường cũng cần được sự giúp đỡ thêm, ngoài những gì được cung cấp cho trẻ không khuyết tật, nhất là trẻ tự kỷ là những trẻ tuy có rối loạn về phát triển nhưng vẫn không hẳn là chạm phát triển ở tất cả các lĩnh vực hoạt động tâm trí. Tiêu chuẩn để đưa trẻ hội nhập vào lớp học bình thường tùy thuộc vào mức độ và loại dịch vụ chăm sóc cần thiết đối với trẻ. Đối với một số trẻ thì cần được đưa vào học hội nhập, nhưng một số trẻ khác thì lại cần được học trong những cơ cấu tách biệt hơn (more segregated setting). Evelyn Deno (1970) đã liệt kê một thứ bậc cơ cấu theo thứ tự từ mức hội nhập nhiều nhất đến mức tách biệt nhất như sau:
1. Lớp học bình thường, có thể cải biên hoặc cung cấp thêm việc chăm sóc hỗ trợ;
2. Lớp học bình thường kèm theo các chăm sóc hướng dẫn phụ trợ bởi một giáo viên phụ đạo hoặc giáo viên lưu động (resource teacher) sẽ thực hiện này;
3. Lớp học đặc biệt bán thời gian; thời gian còn lại trong ngày học trong lớp học bình thường hoặc một phòng học phụ đạo (resource room) để thực hiện các tiết học cá nhân (individual session);
4. Lớp học đặc biệt toàn thời gian đặt trong một trường học bình thường;
5. Trường học bán trú đặc biệt;
6. Hướng dẫn tại nhà (homebound instruction);
7. Học nội trú (institutional or residential assignment).
Các mức độ từ 1 đến 7 được bố trí theo tính chất mỗi lúc một tách biệt hơn và môi trường giáo dục của đứa trẻ càng lúc càng xa với điều kiện bình thường nhiều hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết những trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt này có thể được giáo dục trong những cơ cấu bình thường, trong đó giáo viên phụ trách lớp sẽ trực tiếp giúp trẻ hoặc giáo viên này sẽ nhận được sự trợ giúp đặc biệt thêm từ bên ngoài (giáo viên chuyên biệt). Và dù được học trong cơ cấu giáo dục nào, cũng nên cố gắng cung cấp cho trẻ những trải nghiệm giáo dục (educational experience) càng gần mức bình thường càng tốt.
Một trong những mục đích của giáo dục hội nhập là giúp các em đối phó với những hoàn cảnh sống thường ngày với tất cả khả năng có thể làm được, giao tiếp tốt với nhiều kiểu người khác nhau và sống một cuộc đời càng bình thường chừng nào càng tốt chừng nấy. Với những mục đích này, nhà trường cần phải cung cấp những trải nghiệm giáo dục cho phép trẻ phát triển những kỹ năng ứng phó. Tình huống học tập phải được nhà giáo dục thực hiện ở mức độ thật giống như bình thường, ngay cả khi trẻ được giáo dục theo kiểu tách biệt.
Xây dựng một chương trình giáo dục cá nhân
Một chương trình giáo dục cá nhân (IEP: Individualized Educational Program) là một văn bản nêu ra những mục tiêu, nội dung, phương pháp thực hiện và cách lượng giá một chương trình giáo dục của một đứa trẻ. Ở các nước, IEP được đòi hỏi bởi luật pháp để cho thấy rằng một trẻ thiểu năng phải được cung cấp một sự giáo dục thích đáng. Các IEP được xây dựng bởi những nhóm chuyên viên liên ngành bao gồm những người thuộc các chuyên ngành khác nhau, giáo viên phụ trách lớp - người thực hiện việc giáo dục trẻ, và một điều phối viên. Nó cũng bao gồm phụ huynh và những người chăm sóc trẻ. Thậm chí khi phụ huynh không thể tham dự các buổi họp về IEP, họ cũng phải được thông báo về tiến trình thực hiện và phải nhất trí với các biện pháp được yêu cầu dành cho trẻ. Những biện pháp xử lý thuyết phục hơn cần có sẵn trong trường hợp phụ huynh không đồng ý với các khuyến cáo của nhóm chuyên viên.
IEP cũng nên bao gồm việc mô tả khả năng hiện tại của trẻ, những mục đích đặt ra cho từng năm và những mục tiêu ngắn hạn được đặt ra nhằm đạt đến thành quả cho mỗi năm. Nó cũng phải bao gồm nội dung giáo dục đặc biệt và những biện pháp liên quan để cung cấp cho đứa trẻ, mô tả việc cung cấp các dịch vụ này ở đâu và thường xuyên như thế nào, và mức độ mà trẻ có thể tham gia vào chương trình học của những lớp học bình thường. Cần phải nêu rõ những tiêu chuẩn mà dựa vào đó có thể đánh giá các mục đích; và sau cùng, cũng cần có một sự lý giải cho chương trình giáo dục của trẻ.
○ ○ ○ ○ ○ ○
Tất cả những công việc trong quá trình can thiệp sớm từ hướng dẫn phụ huynh, hỗ trợ gia đình, huấn luyện trực tiếp cho trẻ, mẫu giáo hội nhập và kế hoạch cá nhân, tất cả đều tạo nền tảng cho việc chăm sóc, trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ lâu dài cả về sau này khi trẻ đến tuổi đi học.
Nhiều chương trình can thiệp sớm đã được thực hiện một cách thành công tại Việt Nam dành cho những trẻ khiếm thính, khiếm thị, thiểu năng trí tuệ... Những kinh nghiệm quý báu từ các chương trình đó hoàn toàn có thể được học tập và vận dụng để thực hiện trong can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ, với sự điểu chỉnh linh hoạt sao cho phù hợp với nhu cầu học tập và phát triển của trẻ, cũng như phù hợp với các điều kiện, khả năng và nguồn lực của xã hội hiện nay. Công việc đó chắc chắn không thể là trách nhiệm của riêng một cá nhân, một cơ quan hoặc một chuyên ngành nào cả, mà cần đến nhiều sự thiết kế, cải biên, điều chỉnh hoạt động của nhiều ngành nghề liên quan, để có thể phối hợp nhiều hoạt động khác nhau từ chỗ thông tin đại chúng, tiếp cận dịch vụ chẩn đoán phát hiện sớm, phối hợp liên ngành trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ và gia đình, cho đến đào tạo chuyên viên và nghiên cứu khoa học... 

Khai mạc hội thảo trị liệu trẻ tự kỷ


LỜI KHAI MẠC

Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, con người đã chứng kiến những thành quả khoa học to lớn đem lại lợi ích thiết thực cho đời sống dân sinh. Với sự phát triển đó, ngày nay con người đang đứng trước nhiều cơ hội sở hữu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho mình, đồng thời xã hội ngày càng cải thiện về chất các hình thức phục vụ, xuất hiện nhiều loại hình chăm sóc sức khoẻ mới phù hợp với nhu cầu, lợi ích hiện đại của con người.      
Tuy nhiên, cùng với những lợi ích trên, con người cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức mới đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng như: Ô nhiễm môi trường: chất thải, khí thải, lạm dụng chất hóa học, chất phóng xạ,… Các bệnh cơ thể: bệnh ung thư, bệnh tim mạch, đại dịch AIDS, cúm gia cầm,… Và những bệnh về tinh thần: mất trí nhớ, chậm phát triển trí tuệ, rối loạn tăng động kém chú ý, loạn tâm, nhiễu tâm, tự kỷ,… Trong đó tự kỷ là một trong số những rối loạn đang gây nhiều chú ý nhất tại thời điểm hiện nay do khoa học chưa tìm ra nguyên nhân gây bệnh cũng như hạn chế về phương pháp điều trị hữu hiệu, đồng thời hội chứng này có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống cá nhân, và cộng đồng.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, tỷ lệ mắc tự kỷ khá cao trong dân số, bình quân vào khoảng từ 58 đến 60 trẻ tự kỷ trên 10.000 trẻ được sinh ra, và có khuynh hướng ngày càng gia tăng nhưng không biết rõ nguyên nhân. Theo thông báo của Thượng viện Hoa Kỳ tháng 12 năm 2006 (bản tin thời sự VTV1 ngày 30/12/2006), bình quân khoảng 166 trẻ được sinh ra có 1 trẻ bị tự kỷ. Theo báo cáo từ Bộ Y tế Trung Quốc (2006), cả nước Trung Quốc có hơn 1,6 triệu trẻ tự kỷ và tỷ lệ còn có thể cao hơn nữa vì nhiều trẻ chưa được chẩn đoán kịp thời.
Do chứng tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển, là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện trong hành vi, nhận thức, xúc cảm,  ý nghĩ, lời nói, giác quan và quan hệ xã hội; ít nhiều có kèm theo chậm phát triển trí tuệ. Đồng thời, do trẻ có khiếm khuyết về mặt nhận thức nên người lớn gặp khó khăn khi thâm nhập vào thế giới của các em, điều này dễ dẫn đến quyền lợi của các em không được đảm bảo. Trong khi đó theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc năm 1989 và luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2001 đều có chung những ý cơ bản: tất cả trẻ em đều có quyền được bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng, tôn trọng, giáo dục, vui chơi, phát triển,… như nhau. Như vậy, trẻ tự kỷ cũng như các trẻ em khác phải được hưởng những quyền trẻ em, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần và được giáo dục. Ngoài ra chiếu theo luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em Việt Nam, trẻ tự kỷ còn được xếp vào đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và được chăm sóc đặc biệt, vì hầu hết trẻ tự kỷ gặp khó khăn về nhận thức, khiếm khuyết trong phát triển trí tuệ, gây ra những khó khăn nghiêm trọng trong học tập, giao tiếp và hòa nhập cộng đồng.
Rõ ràng việc can thiệp trị liệu giúp trẻ tự kỷ phát triển về trí tuệ, ngôn ngữ, hành vi, cảm xúc, nhận thức, … để trẻ hòa nhập vào xã hội là một việc quan trọng và có ý nghĩa nhân đạo. Với lý do chính đáng này, Bộ môn Tâm lý Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh tiến hành tổ chức Hội thảo khoa học với nội dung “Trị liệu tâm lý – giáo dục cho trẻ có rối loạn tự kỷ”. Hội thảo này sẽ có nhiệm vụ tổng quan và cập nhật những vấn đề mới nhất, các phương pháp hiệu quả trong can thiệp cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam. Trên cơ sở hội thảo sẽ đưa ra các định hướng chuyên môn cho các bậc phụ huynh và các nhà chuyên môn trong việc nghiên cứu và can thiệp cho trẻ tự kỷ.
Nội dung hội thảo sẽ được tổng hợp các bài viết của các nhà tâm lý trị liệu, các bác sỹ chuyên khoa tâm thần nhi, các giáo dục viên đặc biệt và các nhà nghiên cứu về trẻ tự kỷ đang làm công việc thăm khám, tư vần, chần đoán và can thiệp cho trẻ tự kỷ tại các bệnh viện, các phòng khám, các trường chuyên biệt trên địa bàn Tp. HCM.
Hội thảo là một động thái mang ý nghĩ nhân văn sâu sắc nhằm hướng tới ngày thế giới nhận biết về chứng tự kỷ - 02/04/ 2012.
Để có cuộc hội thảo này, Ban Tổ chức chân thành cám ơn:
-          Sự quan tâm của Ban Giám hiệu và các Phòng Ban chức năng của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Tp. Hồ Chí Minh.
-          Cám ơn các báo cáo viên, những chuyên gia trong lĩnh vực chẩn đoán, nghiên cứu và can thiệp trẻ tự kỷ.
-          Xin chân thành cám ơn các vị đại biểu đại diện cho các cơ sở y tế, giáo dục trong Thành Phố.
-          Cám ơn tới tất cả những vị đại biểu là các phụ hunh có con bị tự kỷ, các giáo dục viên đặc biệt- những người trực tiếp can thiệp trẻ tự kỷ.
-          Xin chân thành cám ơn các vị đại biểu quan tâm đến trẻ tự kỷ có mặt trong hội thảo hôm nay.
-          Cám ơn tới các phóng viên và những người làm chương trình cho các báo,  đài - với tư cách là người giúp quảng bá cho tất cả mọi người biết và nhận thức về trẻ tự kỷ.
-          Cuối cùng chúng tôi xin chân thành cám ơn các đơn vị tài trợ cho hội thảo: Công ty Gỗ Đức Thành, Trường Chuyên  biệt Bim Bim, Trường Chuyên biệt Tuổi Ngọc, Trường Chuyên biệt Ước Mơ.

BAN TỔ CHỨC

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

Thông tin bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Nhà nước – NCS. Ngô Xuân Điệp


(Tamly) - Ngày 26 tháng 6 năm 2009, Viện Tâm lý học đã tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cấp nhà nước cho Nghiên cứu sinh Ngô Xuân Điệp với đề tài “Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành – Mã số 62 31 80 05 do PGS.TS. Văn Thị Kim Cúc và TS. Nguyễn Kim Quý hướng dẫn.
Xem hình đúng cỡ ..
 
Hội đồng chấm luận án “Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” gồm có 7 thành viên: GS.TS.Vũ Dũng, Viện Tâm lý học (Chủ tịch Hội đồng); PGS.TS. Trần Quốc Thành, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Phản biện 1); PGS.TS. Trần Thị Minh đức, Trường Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội (Phản biện 2); PGS.TS Mạc Văn Trang, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (Phản biện 3); TS. Lưu Song Hà, Viện Tâm lý học (Thư ký Hội đồng); PGS.TS. Nguyễn Xuân Thức, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Uỷ viên Hội đồng); PGS.TS. Nguyễn Văn Nhận, Học viện Quân Y (Uỷ viên Hội đồng).

Luận án đã nêu lên trẻ tự kỷ là trẻ có rối loạn phát triển lan toả, rối loạn này ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển tâm lý - nhân cách nói chung, những rối loạn tâm lý - nhân cách gây ra những rối loạn trong phát triển nhận thức của trẻ.

Luận án đã xác định được các khái niệm tự kỷ, nhận thức, rối loạn nhận thức ở trẻ tự kỷ; tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng tự kỷ; nguyên nhân của bệnh tự kỷ, các rối loạn nhân cách của trẻ tự kỷ và một số phương pháp trị liệu cho trẻ tự kỷ

Luận án đã chỉ ra được thực trạng mức độ nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh, phân tích và làm rõ một số đặc điểm trong nhận thức của trẻ tự kỷ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chủ quan và khách quan đến nhận thức của trẻ tự kỷ.

Kết quả tác động thực nghiệm đã khẳng định thành công của phương pháp tiếp cận trị liệu hành vi trong điều trị trẻ tự kỷ tại môi trường gia đình.

Sau khi nghe NCS trình bày. Hội đồng chấm luận án đã có những ý kiến đóng góp để nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án. Theo đánh giá của Hội đồng thì đây là một công trình nghiên cứu khoa học công phu, nghiêm túc, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn rõ rệt, có giá trị khoa học, độ tin cậy và tính ứng dụng thiết thực. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần trực tiếp vào việc nâng cao nhận thức cho trẻ tự kỷ, từ đó tăng cường hiệu quả chữa trị căn bệnh này, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo bậc đại học, cung cấp thông tin và tài liệu cho gia đình trẻ, các cơ sở can thiệp và giáo dục trẻ tự kỷ.

Luận án được đánh giá cao. 
Thanh Thuỷ

Trẻ tăng động giảm chú ý